Điều 1176
§1. Các Ki-tô hữu đã qua đời phải được an táng theo nghi thức Giáo Hội chiếu theo quy tắc của luật.
§2. Qua nghi thức an táng được cử hành chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ, Giáo Hội khẩn cầu ơn trợ giúp thiêng liêng cho những người quá cố, tôn kính thi hài của họ, và đồng thời đem lại niềm an ủi đầy hy vọng cho những người còn sống.
§3. Giáo Hội tha thiết khuyên nhủ nên duy trì tục lệ lành thánh chôn xác người quá cố, tuy nhiên Giáo Hội không cấm hỏa táng, trừ khi chọn hỏa táng vì những lý do nghịch với đạo lý Ki-tô Giáo.
Chương 1. Cử hành nghi thức an táng (Điều 1177 – 1182)
Điều 1177
§1. Thông thường, nghi thức an táng của tất cả mọi tín hữu đã qua đời phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ của người ấy.
§2. Tuy nhiên, bất cứ tín hữu nào hoặc những người có nhiệm vụ an táng một tín hữu quá cố đều được phép chọn một nhà thờ khác để cử hành nghi thức an táng với sự chấp thuận của vị cai quản nhà thờ ấy, và sau khi đã thông báo cho cha sở riêng của người quá cố biết việc ấy.
§3. Nếu một người chết ngoài giáo xứ của mình và thi hài không được đưa về giáo xứ ấy, và nếu không chọn được một nhà thờ nào đó cách hợp pháp để cử hành nghi thức an táng, thì phải cử hành nghi thức an táng trong nhà thờ giáo xứ tại nơi người ấy chết, trừ khi luật địa phương chỉ định nhà thờ khác.
Điều 1178
Nghi thức an táng Giám mục giáo phận phải được cử hành trong nhà thờ chính tòa của ngài, trừ khi chính ngài đã chọn một nhà thờ khác.
Điều 1179
Thông thường, nghi thức an táng các tu sĩ hay các thành viên của một tu đoàn tông đồ phải được cử hành trong nhà thờ hoặc nhà nguyện riêng do cha Bề Trên, nếu là hội dòng hay tu đoàn giáo sĩ, bằng không thì do cha tuyên uý.
Điều 1180
§1. Nếu giáo xứ có nghĩa trang riêng, các tín hữu đã qua đời phải được an táng tại đó, trừ khi chính người quá cố hay những người có nhiệm vụ an táng người quá cố đã chọn một nghĩa trang khác cách hợp pháp.
§2. Tuy nhiên, mọi người đều được phép chọn nghĩa trang làm nơi an táng của mình, trừ khi bị luật cấm.
Điều 1181
Về những của dâng cúng nhân dịp lễ an táng, phải tuân giữ những quy định của điều 1264, nhưng phải liệu sao đừng để có sự thiên vị cá nhân trong việc cử hành lễ an táng, và cũng đừng để người nghèo không được an táng cách xứng hợp.
Điều 1182
Sau khi chôn cất xong, phải ghi vào sổ tử chiếu theo quy tắc của luật địa phương.
Chương 2. Những người được hoặc không được an táng theo nghi thức Giáo Hội (Điều 1183 – 1185)
Điều 1183
§1. Về những gì liên quan đến việc mai táng, các người dự tòng phải được coi như các Ki-tô hữu.
§2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo Hội cho những nhi đồng nào mà cha mẹ đã có ý xin Rửa Tội, nhưng đã chết trước khi được Rửa Tội.
§3. Tùy việc xét đoán khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo Hội cho những người đã được Rửa Tội trong một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không Công Giáo, trừ khi thấy rõ họ muốn cách khác và với điều kiện là không thể có được thừa tác viên riêng của họ.
Điều 1184
§1. Trừ khi đã biểu lộ dấu chỉ sám hối nào đó trước khi qua đời, những người sau đây không được an táng theo nghi thức Giáo Hội:
1° những người bội giáo, những người lạc giáo và những người ly giáo hiển nhiên;
2° những người đã chọn hỏa táng thi hài mình vì những lý do nghịch với đức tin Ki-tô Giáo;
3° những tội nhân hiển nhiên khác, mà việc an táng theo nghi thức Giáo Hội không thể không sinh gương xấu công khai cho các tín hữu.
§2. Nếu nảy sinh một hồ nghi nào, thì phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương và phải tuân theo phán quyết của ngài. Cũng phải từ chối bất cứ Thánh Lễ an táng nào đối với người bị tước quyên được an táng theo nghi thức Giáo Hội.