Điều 1354
§l. Ngoài những vị được nêu lên ở các điều 1355-1356, tất cả những ai có thể miễn chuẩn một luật có kèm theo một hình phạt, hay những ai có thể tha miễn một mệnh lệnh ngăm đe một hình phạt, cũng đều có quyền tha hình phạt ấy.
§2. Ngoài ra, luật hay mệnh lệnh thiết lập một hình phạt cũng có thể ban cho những người khác quyền tha hình phạt ấy.
§3. Nếu Tông Toà dành riêng cho mình hay dành cho những người khác quyền tha hình phạt, thì sự dành riêng ấy phải được giải thích theo nghĩa hẹp.
Điều 1355
§1. Các vị sau đây có thể tha hình phạt do luật thiết lập, nếu hình phạt hậu kết đã được áp đặt hay hình phạt tiền kết đã được tuyên bố, miễn là hình phạt không dành riêng cho Tông Toà:
20 Bản quyền địa phương tại nơi phạm nhân đang cư ngụ, nhưng sau khi đã tham khảo ý kiến của Bản quyền được nói đến ở 10, trừ khi không thể tham khảo được do những hoàn cảnh bất thường.
§2. Có thể tha hình phạt do luật thiết lập, là tiền kết, chưa được tuyên bố và miễn là hình phạt ấy không dành riêng cho Tông Toà:
20 Bản quyền địa phương đối với cả những người đang ở trong địa hạt của ngài hay tại nơi đó họ đã phạm tội.
30 Bất cứ Giám mục nào, tuy nhiên, chỉ trong khi ban bí tích giải tội.
Điều 1356
§1. Có thể tha một hình phạt hậu kết hay tiền kết được thiết lập bởi một mệnh lệnh mà đã không do Tông Toà ban hành:
20 Bản quyền đã phát động tư pháp để áp đặt hay tuyên bố hình phạt hoặc đã đích thân hay qua người khác áp đặt hay tuyên bố hình phạt bằng sắc lệnh.
30 Bản quyền địa phương, tại nơi mà phạm nhân đang ở.
§2. Trước khi tha một hình phạt, phải tham khảo ý kiến, của người ra mệnh lệnh phạt, hoặc người đã áp đặt hay tuyên bố hình phạt, trừ khi không thể hỏi ý kiến được do những hoàn cảnh bất thường.
Điều 1357
§l. Vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 508 và 976, cha giải tội có thể tha ở toà trong thuộc bí tích,[67] vạ tuyệt thông tiền kết hay vạ cấm chế tiền kết chưa được tuyên bố, nếu hối nhân cảm thấy khổ sở khi phải sống trong tình trạng tội trọng suốt thời gian cần thiết để Bề trên có thẩm quyền định liệu.
§2. Khi tha vạ, cha giải tội phải buộc hối nhân trong vòng một tháng phải thượng cầu lên Bề trên có thẩm quyền hay lên tư tế có năng quyền và phải tuân theo quyết định của các ngài;[68] trong khi chờ đợi, cha giải tội phải ra một việc sám hối cân xứng[69] và trong mức độ cần thiết; buộc đương sự sửa chữa cớ vấp phạm cũng như đền bù thiệt hại. Việc thượng cầu cũng có thể nhờ cha giải tội thực hiện, nhưng không nêu danh tính của hối nhân.
§3. Sau khi đã qua cơn nguy hiểm, những người, chiếu theo quy tắc của điều 976[70] đã được giải khỏi vạ đã bị áp đặt hay tuyên bố, hay được dành riêng cho Tông Toà, đều buộc phải giữ nghĩa vụ thượng cầu.
Điều 1358
§1. Không được phép tha vạ nếu phạm nhân vẫn còn ngoan cố[71], chiếu theo quy tắc của điều 1347 §2; nhưng không được từ chối tha vạ cho phạm nhân nào đã hết ngoan cố, trừ ra những gì quy định ở điều 1361 §4.
§2. Người nào tha vạ, thì có thể áp dụng các biện pháp chiếu theo quy tắc của điều 1348 hay cũng có thể áp đặt một việc sám hối.
Điều 1359
Nếu một người mắc nhiều hình phạt, thì việc tha chỉ có giá trị đối với những hình phạt nào được nói đến; nhưng việc tha tổng quát thì tha mọi hình phạt, trừ những hình phạt mà phạm nhân vì gian ý đã không nêu ra trong thỉnh cầu.[72]
Điều 1360
Việc tha hình phạt bị tác động bởi vũ lực, sợ hãi nghiêm trọng hay bởi gian dối thì vô giá trị do chính luật.[73]
Điều 1361
§l. Có thể tha hình phạt cho cả người vắng mặt, hoặc tha với điều kiện.
§2. Việc tha hình phạt ở toà ngoài phải được ban bằng văn bản, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác.
§3. Việc xin tha hay chính việc tha hình phạt không được tiết lộ,[74] trừ khi điều đó hữu ích để bảo vệ thanh danh cho phạm nhân hay cần thiết để sửa chữa một cớ vấp phạm.
§4. Không được tha phạt bao lâu, theo sự phán xét khôn ngoan của Bản quyền, phạm nhân chưa sửa chữa được thiệt hại đã gây ra; phạm nhân có thể được thúc giục để sửa chữa hay bồi hoàn bằng một trong những hình phạt được nói tới ở điều 1336 §§2-4, và điều này cũng áp dụng khi nào tha vạ theo quy tắc của điều 1358 §1.[75]
Điều 1362
§1. Tố quyền hình sự chấm dứt sau ba năm do thời hiệu, trừ khi xét đến:
20 Vẫn giữ nguyên qui định ở 10, tố quyền đối với những tội phạm nào nói tới ở điều 1376, 1377, 1378, 1393 §1, 1394, 1395, 1397, hay 1398 §2, thì chấm dứt sau bảy năm, hoặc tố quyền đối với những tội phạm của điều 1398 §1, thì chấm dứt sau hai mươi năm;[76]
§2. Thời hiệu, trừ trường hợp luật đã ấn định cách khác, bắt đầu từ ngày thực hiện tội phạm, hoặc, nếu tội phạm kéo dài hay thường xuyên, thì bắt đầu từ ngày chấm dứt tội phạm.
§3. Khi phạm nhân được triệu tập theo qui tắc của điều 1723, hay được thông tri theo cách thức của điều 1507 §3 về việc trình, theo quy tắc của điều 1721 §1, một đơn khởi tố , thì thời hiệu của tố quyền hình sự ba năm bị đình chỉ; hết thời hạn này hay khi sự đình chỉ bị gián đoạn, vì lý do chấm dứt tố tụng hình sự, thì thời gian trải qua mới được cộng vào với thời hiệu đã trải qua. Sự đình chỉ này cũng áp dụng tương tự nếu, khi tuân giữ điều 1720, 10, hình phạt được áp đặt hay tuyên bố bằng sắc lệnh ngoại tư pháp.
Điều 1363
§1. Nếu sắc lệnh thi hành án của thẩm phán được nói đến ở điều 1651 đã không được thông báo cho phạm nhân trong thời hạn được nói đến ở điều 1362, tính từ ngày bản án kết tội đã trở thành quyết tụng, thì tố quyền chấp hành hình phạt bị thời hiệu tiêu huỷ.
§2. Nguyên tắc trên đây cũng có giá trị đối với hình phạt được tuyên kết bằng sắc lệnh ngoại tư pháp, miễn là vẫn giữ những gì luật định,.