Ðiều 1399
Ngoài những trường hợp do luật này hay các luật khác ấn định, sự vi phạm bên ngoài một luật Thiên Chúa hay một luật Giáo hội có thể bị một hình phạt thích đáng, chỉ khi tính cách nghiêm trọng đặc biệt của sự vi phạm đòi hỏi phải phạt, và sự cần thiết thúc bách phải phòng ngừa hay sửa chữa cớ vấp phạm.
GHI CHÚ. Của Tác giả bản dịch Việt ngữ
[1] QUYỂN VI có tựa đề DE SANCTIONIBUS POENALIBUS IN ECCLESIA: CHẾ TÀI HÌNH SỰ TRONG GIÁO HỘI. Bản cũ dịch thiếu chữ “hình sự”.
[2] Đ. 1311§1. Nativum et proprium Ecclesiae: Giáo hội có quyền bẩm sinh và quyền riêng. Không nên dịch: Giáo hội có quyền bẩm sinh và riêng biệt. Chữ proprium ở đây nói về sở hữu của riêng ai, chứ không nói về tính cách “riêng biệt” (speciale). Giáo hội xác định mình có quyền riêng (của mình) trong vấn đề chế tài hình sự.
[3] Đ. 1311§1. Coercendi qui delicta commiserint: cưỡng chế những Kitô hữu nào đã phạm tội. Không nên dịch: cưỡng chế các Kitô hữu phạm pháp. Quyển VI này nói đến tội phạm hình sự, không có ý nói đến phạm pháp một cách chung chung.
[4] Đ. 1311§2 luật canh tân thêm phần hướng dẫn về mục đích và tinh thần trong việc chế tài hình sự.
[5] Đ. 1312§2. Privent: tước khỏi. Không nên dịch: khiến cho … không được hưởng. Điều luật này muốn nói tới tác động cách mạnh mẽ của sự tước bỏ, tước đi chứ không nói như một hệ quả hay hậu quả kéo theo như kiểu nói khiến cho hay gây ra.
[6] Đ. 1312§2. Bono spirituali vel temporali: lợi ích thiêng liêng hay trần thế. Không nên dịch lợi ích thiêng liêng hay vật chất. Ví dụ, các tước bỏ giáo vụ, công việc, thừa tác vụ hoặc nhiệm vụ … của thục hình nói ở điều 1336 có nghĩa như tước bỏ lợi ích trần thế chứ không phải là vật chất.
[7] Đ. 1312§3. Remedia poenalia: phương dược hình sự. Không được dịch: dược hình. Dịch chữ “dược hình” sẽ bị lẫn lộn với “vạ hay dược hình” (poenalia medicinales) được nói ở §2, 10 . Phần §3 của điều luật 1312 này, sau khi nói đến hình phạt (poenae) thì nói đến thuốc chửa hay phương dược (remedia) có tính chất như phạt (poenalia) chứ không còn đúng là hình phạt (poena) nữa. Vậy nếu, dịch là “dược hình” sẽ bị sai lạc và lẫn lộn giữa §2 và §3.
[8] Đ. 1312§3. Bản Việt ngữ cũ bị thiếu đoạn: được nói ở những điều 1339 và 1340, cần phải thêm vào.
[9] Đ. 1314. Ipso facto commissi delicti: tự động bị phạt do chính sự kiện là đã phạm tội. Không nên dịch: chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội“. Chữ “tức khắc”, chỉ về thời gian, Ví dụ, giáo quyền có thể phạt ngay “tức khắc” một phạm nhân. Và nếu bị giáo quyền phạt “tức khắc” thì đó lại là trường hợp của vạ hậu kết. Vạ tiền kết hệ tại ở sự “tự động” bị phạt do chính luật quy định chứ không do giáo quyền phạt, cho dù là ngay tức khắc. Bản tiếng Anh dịch: “so that it is incurred automatically upon the commission of an offence“.
[10] Điều 1315 luật canh tân:
– Sắp xếp lại cấu trúc điều luật và thay đổi một số điểm về quyền lập luật hình sự.
– Người nào có quyền ban hành những luật hình sự, thì cũng có thể… được dùng thay cho: người có quyền lập pháp cũng có thể… ở triệt 1. Luật mới không còn hạn chế vào quyền lập pháp trong việc thiết lập luật phạt, chỉ nói một cách tổng quát: Người nào có quyền ban hành những luật hình sự.
Tuy nhiên ở triệt 2 điều luật này lại dùng: nhà lập pháp cấp dưới và nhà lập pháp cấp trên.
– Về thẩm quyền thiết lập thêm hình phạt của nhà lập pháp cấp dưới vào một luật cấp trên, vào một luật phạt phổ quát cho một tội phạm, hoặc quyền quyết định phạt khi luật phổ quát chỉ để tùy ý phạt cho một tội phạm, luật canh tân loại bỏ lệnh: đừng làm… trừ khi có nhu cầu rất nghiêm trọng. Luật cũng đòi lưu ý đến điều 1317, nghĩa là chỉ đòi hỏi thiết lập luật hình sự theo mức độ cần thiết để hổ trợ kỷ luật Giáo hội một cách thích hợp hơn.
Như vậy, nhà lập pháp cấp dưới có thể thêm nhiều hình phạt hơn so với hướng dẫn cũ.
– Sắp xếp lại cấu trúc điều luật và thay đổi một số điểm về quyền lập luật hình sự.
– Người nào có quyền ban hành những luật hình sự, thì cũng có thể… được dùng thay cho: người có quyền lập pháp cũng có thể… ở triệt 1. Luật mới không còn hạn chế vào quyền lập pháp trong việc thiết lập luật phạt, chỉ nói một cách tổng quát: Người nào có quyền ban hành những luật hình sự.
Tuy nhiên ở triệt 2 điều luật này lại dùng: nhà lập pháp cấp dưới và nhà lập pháp cấp trên.
– Về thẩm quyền thiết lập thêm hình phạt của nhà lập pháp cấp dưới vào một luật cấp trên, vào một luật phạt phổ quát cho một tội phạm, hoặc quyền quyết định phạt khi luật phổ quát chỉ để tùy ý phạt cho một tội phạm, luật canh tân loại bỏ lệnh: đừng làm… trừ khi có nhu cầu rất nghiêm trọng. Luật cũng đòi lưu ý đến điều 1317, nghĩa là chỉ đòi hỏi thiết lập luật hình sự theo mức độ cần thiết để hổ trợ kỷ luật Giáo hội một cách thích hợp hơn.
Như vậy, nhà lập pháp cấp dưới có thể thêm nhiều hình phạt hơn so với hướng dẫn cũ.
[11] Đ. 1317 luật canh tân: Dùng cụm từ nhà lập pháp cấp dưới thay cho luật địa phương (lege particulari) trong ấn định về sự không có quyền lập ra luật sa thải ra khỏi hàng giáo sĩ.
[12] Đ. 1318 và nhiều điều khác. Scandalo: cớ vấp phạm. Không nên dịch gương xấu. Chữ gương bao hàm ý nghĩa của sự noi theo hay bắt chước. Trong cuộc sống, hầu hết các việc làm xấu xa, tội lỗi thì ít gây cho người ta bắt chước hay noi theo, nhưng điều chính đó là gây cớ vấp phạm. Scandal (cớ vấp phạm) có nghĩa là cái cớ, cái dịp khiến cho người ta làm điều xấu. (Xem bản Tuyên Bố năm 2000 của Ủy Ban Giáo Hoàng Giải Thích Văn Bản Luật Pháp). Ví dụ một giáo sĩ dám kết hôn, thì việc bắt chước theo tu sĩ đó thì ít có, nhưng sẽ khiến cho người ta chỉ trích, phê bình, chống đối Giáo hội, chống đối hàng giáo sĩ, hàng tu sĩ. Hoặc một ví dụ khác: nếu cho người ly dị tái hôn được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể một cách bình thường như những người khác, sẽ gây ra scandal, tức là khiến cho người ta “tưởng lầm” Giáo hội cho phép tái hôn, hoặc phê bình Giáo hội đi ngược giáo huấn bất khả phân ly hôn nhân của Chúa Kitô. Vì vậy, nên dùng chữ “cớ vấp phạm“ để dịch chữ “scandal“, thay cho chữ “gương xấu”. Dịch là cớ vấp phạm thì sát nghĩa hơn, và nó cũng không loại trừ ý nghĩa bắt chước điều xấu (gương xấu).
[13] Đ. 1318 luật canh tân: dùng chữ Delicta specialis gravitatis: tội phạm đặc biệt nặng, thay cho delicta graviora: tội phạm nặng hơn. Thật ra, hình phạt được áp đặt để chống lại những loại tội phạm riêng biệt hay đặc biệt và nặng, chứ không chống lại tội nặng hơn. Có sự thay đổi này có lẽ là do nhà lập pháp thấy chữ “nặng hơn” có vẻ lạc lỏng, vì không có sự so sánh ở đây.
[14] Đ. 1319§1 luật canh tân: thay đổi cách nói để xác định rõ hơn: Quatenus quis potest vi potestatis regiminis in foro externo praecepta imponere iuxta praescripta cann. 48-58: Trong mức độ mà một người có thể ra các mệnh lệnh ở tòa ngoài do quyền lãnh đạo theo các quy định của những điều 48-58. Bản cũ chỉ nói đơn giản: Quatenus quis potest vi potestatis regiminis in foro externo praecepta imponere: Do quyền lãnh đạo, một người có thể áp đặt những mệnh lệnh ở toà ngoài đến mức độ nào.
[15] Đề mục 3: DE SUBIECTO POENALIBUS SANCTIONIBUS OBNOXIO: CHỦ THỂ BỊ CHẾ TÀI HÌNH SỰ. Bản dịch cũ bị thiếu chữ “hình sự”.
[16] Điều 1321 luật canh tân nói về những trường hợp được miễn phạt, có thêm triệt 1 giả định về sự vô tội trước khi được chứng minh là có tội, triệt 3 quy định miễn phạt khi phạm tội mà thiếu sự cẩn trọng cần thiết.
[17] Đ. 1321§2. Ex dolo vel ex culpa: do cố ý hay do tội tắc trách. Không nên dịch: do cố tình hay do lầm lẫn. Ở đây cần phải hiểu ý nghĩa của dolus và colpa theo luật hình sự.
Dolo được dịch với nghĩa chung nhất là cố ý
Trong Enciclopedia Italiana, ở phần Diritto penale có nói: “Doloso, cioè, venne considerato non solo il fatto fraudolento, ma altresì ogni fatto commesso con volontà libera (non coartata) e con coscienza dell’illegittimità del fatto medesimo” (Enciclopedia Italiana).
Colpa ở đây không được dịch là “lầm lẫn”, vì nếu do lầm lẫn, thì ngược lại, theo Giáo luật phải được miễn phạt. Theo nguyên tắc chung: không ai phạt kẻ bị lầm lẫn hay không biết.
Cũng trong Enciclopedia Italiana, ở phần Diritto penale có nói Colpa: “Forma di imputazione della responsabilità penale qualificata sussidiaria rispetto al dolo, perché la condotta antigiuridica che dà luogo al delitto colposo è punibile nei soli casi espressamente previsti dalla legge. L’art. 42, co. 2, c.p. stabilisce, infatti, che nessuno può essere punito per un fatto, previsto dalla legge come delitto, se non l’ha commesso con dolo, tranne nei casi di delitto preterintenzionale o colposo espressamente indicati dalla legge.
Enciclopedia Italiana cho thấy colpa được coi là sự quy trách về trách nhiệm hình sự (imputazione della responsabilità penale). Thường thì phạm nhân do không chu toàn trách nhiệm, khiến gây ra những điều xấu như lơ là, chểnh mảng nhiệm vụ, hoặc rượu chè say sưa, không lo quản lý tài sản được giao phó. Do đó, colpa nên được dịch là “tội phạm tắc trách “.
Tội phạm tắc trách này chỉ bị phạt khi bộ luật có ấn định rõ ràng là bị phạt. Vì vậy, colpa trong điều 1321§2 này nên được thêm thuộc tính hình sự. Trong Giáo luật, điều 1326§1,30 quy định phải phạt người không chịu đề phòng để mình phạm vào tội tắc trách hình sự (delictum culposum). Có thể kể một số điều ấn định phạt tội tắc trách hình sự trong Giáo luật:
Điều 1387 quy định: Người nào “vì chểnh mảng tắc trách (négligence coupable), đã thực hiện hay bỏ qua cách bất hợp luật một hành vi”.
Điều 1376§2,20 quy định: Người nào “đã chểnh mảng nghiêm trọng trong quản trị tài sản của Giáo hội“.
Dolo được dịch với nghĩa chung nhất là cố ý
Trong Enciclopedia Italiana, ở phần Diritto penale có nói: “Doloso, cioè, venne considerato non solo il fatto fraudolento, ma altresì ogni fatto commesso con volontà libera (non coartata) e con coscienza dell’illegittimità del fatto medesimo” (Enciclopedia Italiana).
Colpa ở đây không được dịch là “lầm lẫn”, vì nếu do lầm lẫn, thì ngược lại, theo Giáo luật phải được miễn phạt. Theo nguyên tắc chung: không ai phạt kẻ bị lầm lẫn hay không biết.
Cũng trong Enciclopedia Italiana, ở phần Diritto penale có nói Colpa: “Forma di imputazione della responsabilità penale qualificata sussidiaria rispetto al dolo, perché la condotta antigiuridica che dà luogo al delitto colposo è punibile nei soli casi espressamente previsti dalla legge. L’art. 42, co. 2, c.p. stabilisce, infatti, che nessuno può essere punito per un fatto, previsto dalla legge come delitto, se non l’ha commesso con dolo, tranne nei casi di delitto preterintenzionale o colposo espressamente indicati dalla legge.
Enciclopedia Italiana cho thấy colpa được coi là sự quy trách về trách nhiệm hình sự (imputazione della responsabilità penale). Thường thì phạm nhân do không chu toàn trách nhiệm, khiến gây ra những điều xấu như lơ là, chểnh mảng nhiệm vụ, hoặc rượu chè say sưa, không lo quản lý tài sản được giao phó. Do đó, colpa nên được dịch là “tội phạm tắc trách “.
Tội phạm tắc trách này chỉ bị phạt khi bộ luật có ấn định rõ ràng là bị phạt. Vì vậy, colpa trong điều 1321§2 này nên được thêm thuộc tính hình sự. Trong Giáo luật, điều 1326§1,30 quy định phải phạt người không chịu đề phòng để mình phạm vào tội tắc trách hình sự (delictum culposum). Có thể kể một số điều ấn định phạt tội tắc trách hình sự trong Giáo luật:
Điều 1387 quy định: Người nào “vì chểnh mảng tắc trách (négligence coupable), đã thực hiện hay bỏ qua cách bất hợp luật một hành vi”.
Điều 1376§2,20 quy định: Người nào “đã chểnh mảng nghiêm trọng trong quản trị tài sản của Giáo hội“.
[18] Đ. 1322. Rationis usu carent: không sử dụng đủ trí khôn. Không nên dịch: không sử dụng được trí khôn. Chữ “carent” chỉ nói đến mức độ thiếu, không đủ. Hơn nữa, vẫn giữ chữ dịch là “không đủ” hay “thiếu” thì mới có thể có tình trạng tâm trí được nói tiếp theo sau: trong khi họ có vẻ sáng suốt. Nếu dịch là không sử dụng được trí khôn thì không thể nào lại có trường hợp phạm nhân lại có thể có vẻ sáng suốt.
[19] Đ. 1323,20. Ignorantiae autem inadvertentia et error aequiparantur: hơn nữa, sự vô ý và lầm lẫn thì tương đương với sự không biết. Không nên dịch: tuy nhiên, sự vô ý và lầm lẫn được đồng hoá với sự không biết. Ở đây, không nên dịch autem là tuy nhiên, vì chỉ là nói thêm một vấn đề mà không có ý nói lên sự tương phản. Không nên dịch aequiparantur là đồng hóa. Sự không biết và lầm lẫn (biết nhưng biết sai) là hai ý niệm có bản chất khác nhau. Giáo luật chỉ muốn nói, cả hai trường hợp phạm tội do “không biết” hay “lầm lẫn” thì luật hình sự coi là ngang bằng hay tương đương với nhau trong “mức độ” phạt, mà ở đây là không bị phạt. Giáo luật không có ý “đồng hóa” hai ý niệm “không biết” và “lầm lẫn”.
[20] Đ. 1323,30. Vel ex casu fortuito, quem praevidere vel cui praeviso occurrere non potuit: hoặc dưới sự thúc đẩy của một sự cố ngẫu nhiên mà người đó không thấy trước hoặc nếu thấy trước thì cũng không thể tránh được. Không dịch: hay do một trường hợp ngẫu nhiên không thể thấy trước được, hoặc dù có thấy trước cũng không thể chống lại được. Ở đây, casu fortuito nên dịch là sự cố tình cờ, chứ không đơn thuần là một trường hợp ngẫu nhiên, vì nói như vậy là rất mơ hồ không hợp với bối cảnh hình sự. Bản dịch cũ cũng chỉ liên hệ đến trường hợp bị vũ lực nên dịch không chống lại được. Thật ra đây là trường hợp không thể tránh được đối với một sự cố xảy ra. Bản tiếng Anh cũng dịch là không thể tránh được: if foreseen could not avoid.
[21] Đ. 1323,40. Aut ex necessitate vel gravi incommodo. Không nên dịch: hoặc do nhu cầu thúc đẩy, hoặc để tránh một điều bất lợi nghiêm trọng. Nhiều khi, người ta làm vì sự cần thiết phải làm để tránh sự bất tiện, không chỉ do nhu cầu. Ví dụ, có nguy cơ bị rơi xuống vực không thể tránh được, tài xế có thể tông vào người khác để giữ an toàn cho năm chục người trên xe. Đây là trường hợp do sự cần thiết chứ không phải do nhu cầu. Chữ gravi incommodo không nên dịch là bất lợi hay bất tiện nghiêm trọng vì ở đây luật nói đến những trường hợp không bị phạt, nên dịch là phiền phức nghiêm trọng. Công bằng mà nói, phạm tội do lợi lộc cá nhân hay sự tiện lợi của mình mà cũng được miễn phạt hay sao? Chỉ được miễn phạt khi bị quấy rầy gây phiền phức nghiêm trọng.
[22] Đ. 1323,40 Intrinsece malus: xấu tận căn. Không nên dịch thực chất là xấu hay bản chất là xấu. Intrinsece malus ám chỉ đến điều dữ hay ác tận gốc rễ như phá thai, cố tình giết người. Trong thực tế, các điều xấu thực chất là xấu là có rất nhiều. Không thể nói dối trá, ăn cắp, lừa gạt… trong đời sống hàng ngày lại không có thực chất là xấu hay bản chất là xấu. Trong trường hợp bị vũ lực đe đọa, cần thiết, phiền phức nghiêm trọng như đã nói, nếu có dối trá, ăn cắp, lừa gạt thì có thể được coi là nhẹ hay không tội và được miễn phạt. Tuy nhiên, có luật trừ rằng nếu làm điều xấu tận căn như phá thai, cố tình giết người thì không được miễn phạt.
[23] Đ. 1323,50 Legitimae tutelae causa contra iniustum sui vel alterius aggressorem egit: tự vệ cho mình hay cho người khác một cách hợp pháp chống lại kẻ tấn công bất chính. Không dịch: tự vệ chính đáng chống lại một kẻ tấn công mình hay một người khác cách bất công. Vấn đề ở đây là tự vệ cho mình và cho người khác. Cần phải dịch lại, để tránh hiểu lầm là tự vệ chống lại một người thứ ba nào khác.
[24] Đ. 1324,20 luật canh tân: Trong vấn đề giảm nhẹ hình phạt do thiếu sử dụng trí khôn vì say rượu, luật mới thêm mệnh đề: vẫn giữ những gì quy định ở điều 1326 §1, 40, nghĩa là vẫn phải phạt theo quy định: “Người đã phạm tội trong tình trạng say rượu hay một rối loạn tâm trí nào khác, nhưng cố ý làm như vậy để phạm tội hay để bào chữa, hoặc cố ý để cho đam mê được kích thích hay được nuôi dưỡng”.
[25] Đ. 1324,50. Ex necessitate: do sự cần thiết. Không dịch: do nhu cầu, như đã nói trên.
[26] Đ. 1324§2. Idem potest iudex facere: thẩm phán có thể xử như vậy. Không nên dịch: thẩm phán có thể làm như vậy. Thẩm phán cần “xử” giảm nhẹ phạt hình phạt cho những trường hợp đã nêu ở triệt 1.
[27] Đ. 1326§1 của luật canh tân. Iudex gravius punire debet. Luật mới quy định “phải” (debet) trừng phạt, chứ không còn để “có thể” (potest) trừng phạt.
[28] Đ. 1326§1,20. Delictum culposum: tội tắc trách. Không được dịch: tội phạm cố tình. Đây là một trường hợp bị phạt do delictum culposum, hệ tại việc lười biếng, chểnh mảng nhiệm vụ gây hại, hay rượu chè say sưa… Tội nhân thấy trước được sự việc mình có thể sẽ phạm tội đó, nhưng không có ý phòng ngừa để tránh. Ở đây không có ý nói đến tội do cố tình (dolo). Vấn đề tội do dolo và colpa đã được bàn ở điều 1321§2 ở trên.
[29] Đ. 1326§1,40 luật canh tân: chuyển một phần của điều 1325 về say rượu sang đ. 1326§1,40
[30] Đ. 1326§3 luật canh tân thêm quy định cho những trường hợp “phải phạt”: nếu hình phạt được ấn định là tùy nghi, thì trở thành bắt buộc.
[31] Đ. 1328§l. Statuta: ấn định. Không nên dịch dự liệu. Ở đây nói đến hình phạt đã được ấn định chứ không phải chỉ là dự kiến hay dự liệu.
[32] Đ. 1328§l. Remedio poenali: Phương dược hình sự. Không dịch là dược hình. Dược hình (poenae medicinales) thì thuộc loại khác, được nói ở điều 1312§1,10. Phương dược hình sự đi gần với sám hối, có “tính chất phạt” chứ không là “hình phạt”. Vấn đề này đã được bàn đến ở điều 1312§3.
[33] Đ. 1328§2. iusta potest poena puniri: có thể phải chịu một hình phạt thích đáng. Không nên dịch: có thể phải chịu một hình phạt chính đáng. Người ta không nói chịu một hình phạt mà lại chính đáng.
[34] Đ. 1329. Cả điều luật này được dịch lại cho đúng đắn và dễ hiểu hơn về hình phạt dành cho những người đồng phạm. Ở §1 không nên dùng ngay khái niệm “đồng lõa” vì chưa định nghĩa nó là gì. Luật chỉ nói: communi delinquendi consilio in delictum concurrunt, nghĩa là: Những người với chủ ý chung cùng nhau thực hiện (concurrunt) một tội phạm. Ở §2 nên dùng chữ “đồng phạm” (complices), không nên dùng chữ “đồng lõa”, vì chữ “đồng lõa” Việt ngữ được hiểu nghĩa rất rộng. Ví dụ, người ta biết mà không tố cáo thì cũng được kể là đồng lõa. Ở §1 đã dùng động từ concurrunt, có chữ tiếp đầu ngữ con- có nghĩa là cùng, với nhau. Cho nên cần phải dịch là đồng phạm hay cùng phạm. Điều 1329 này thuộc phạm vi hình sự, cần phải nói một cách phân biệt và chính xác về hành vi phạm tội. Vì vậy, ở đây, không nên dịch với các khái niệm đồng lõa, đồng tình.
[35] Chương I này chỉ ghi tựa đề là DE CENSURIS. Do đó, không dịch là DƯỢC HÌNH HAY VẠ, chỉ dịch là VẠ. Ở đây chỉ có một chủ đề, là “vạ”, nếu dịch thêm là dược hình hay vạ, có thể gây ra hiểu lầm là có hai chủ đề.
[36] Đ. 1331 luật canh tân về vạ tuyệt thông: Có thêm điều mới, là cấm “Dự phần một cách chủ động trong những cử hành nói trên” (đ. 1331§1,40). Cũng thêm: sau khi vạ đã được áp đặt hay tuyên bố, thêm phần hạn chế đối với phạm nhân, không thể thụ hưởng thành sự quyền lợi, đặc ân hoặc tước hiệu danh dự.
[37] Đ. 1333 luật canh tân loại bỏ mệnh đề “Vạ huyền chức chỉ chi phối các giáo sĩ mà thôi”, chỉ nói lại cách đơn giản: “Vạ huyền chức cấm:”. Điều này cho thấy vạ huyền chức còn có thể chi phối cả giáo dân. Có thể luật canh tân đã chỉnh lại cho hợp lý hơn, vì điều 228§1 có quy định giáo dân có thể lãnh nhận một giáo vụ. Giáo dân có thể bị phạt cấm, được nói ở 3 của đ. 1333§1: cấm thi hành tất cả hoặc một số quyền lợi hay nghĩa vụ gắn liền với giáo vụ.
[38] Đ. 1333§1,10. Omnes vel aliquos actus: Tất cả hoặc một vài hành vi. Không nên dịch: Hoặc tất cả, hoặc một vài hành vi.
[39] Đ. 1333§4. Fructus: lợi lộc. Không nên dịch: Hoa lợi.
[40] Đ. 1333§4. Obligationem secumfert restituendi quidquid illegitime: bao gồm bó buộc phải trả lại bất cứ những gì đã nhận cách bất hợp pháp. Không nên dịch: bao hàm nghĩa vụ phải hoàn lại tất cả những gì đã nhận được cách bất hợp pháp. Chữ obligationem ở đây nên dịch là “bó buộc” có tính pháp lý hình sự, không nên nói là “nghĩa vụ” hay bổn phận, mang tính tùy đạo đức luân lý.
[41] Điều 1334§l. Chuyển cách dịch để tránh hiểu lầm. Không phải bản án hay sắc lệnh nào cũng có thể quy định “phạm vi” của vạ huyền chức, nhưng chỉ có cái nào tuyên phạt mà thôi,
[42] Điều 1334§2. Nulla addita determinatione vel limitatione: mà không có thêm vào một sự xác định hay một giới hạn nào. Không nên dịch: mà không có một lời giải thích hay một giới hạn nào được thêm vào. “Luật” vì có uy quyền lớn và phổ quát nên khi luật thiết lập một vạ huyền chức tiền kết thì không cần phải thêm sự xác định hay giới hạn nào. Nhưng mệnh lệnh, án lệnh, sắc lệnh có uy quyền và phạm vi áp dụng nhỏ hơn, thì khi thiết lập và huyền chức tiền kết áp dụng cho tội phạm nào đó, thì cần phải thêm vào những xác định cho rõ và áp dụng như thế nào, phạm vi nào… Ở đây không phải là vấn đề “giải thích” để hiểu một mệnh lệnh hay sắc lệnh nhưng là vấn đề khi mệnh lệnh, sắc lệnh ấn định vạ huyền chức tiền kết thì phải thêm sự xác định và trong những giới hạn nào.
[43] Điều 1336 luật canh tân đã sắp xếp trở lại cho rõ ràng phân minh những hình phạt thuộc thục hình.
[44] Đ. 1337§1. Prohibitio commorandi: Hình phạt cấm cư ngụ. Không nên dịch: Vạ cấm cư ngụ. Ở phần này nói đến thục hình (de poenis expiatoriis) chứ không phải là vạ (de censuris) hay dược hình nữa. Prohibitio là một loại của thục hình ở triệt 3 của điều 1336, nói đến các điều cấm trong các loại phạt của thục hình (loại: buộc, cấm, tước bỏ). Có khác nhau giữa vạ và thục hình. Vạ thường được tha khi phạm nhân thống hối (Ví dụ vạ tuyệt thông tiền kết cho phạm nhân phá thai; được tha sau khi nhận bí tích giải tội). Còn thục hình thì áp đặt cho phạm nhân một cách lâu bền để đền tội hay sửa chữa; ví dụ hình phạt tước bỏ năng quyền giải tội một cách lâu bền.
[45] Đ.1338 luật canh tân đã thêm triệt 3 và 4 quy định về thục hình.
[46] Đ.1338§l. Numquam afficiunt: Không bao giờ áp dụng. Không nên dịch: không bao giờ chi phối. Những điều luật thì có thể nói là nó chi phối những ai. Còn những thục hình được nhà cầm quyền tuyên phạt thì không nói chi phối nhưng nói áp đặt hay áp dụng (afficiunt) cho những người dưới quyền mình.
[47]Đ.1338§4 luật canh tân thêm quy định: Thục hình thường là hậu kết, Giáo luật chỉ cho phép thiết lập hình phạt tiền kết giới hạn trong những điều cấm, được kể ở đ. 1336§3.
[48] Điều 1338§5 luật canh tân thêm quy định: Prohibitiones de quibus in can. 1336, § 3, numquam sunt sub poena nullitatis. Numquam sunt sub poena nullitatis: Các lệnh cấm nói ở điều 1336, §3, không bao giờ được đặt thành hình phạt vô hiệu hóa. Ở đây luật không hề có ý nói đến vấn đề vô hiệu của lệnh cấm mà có ý nói đến vấn đề vô hiệu của hành vi thực hiện bởi phạm nhân. Ví dụ, lệnh phạt có thể cấm một Giám mục truyền chức thánh, nhưng không thể ấn định thêm rằng việc truyền chức của ngài là vô hiệu.
[49] Điều 1339§1. Nên chuyển văn bản dịch, vì đến phần này không còn là “vạ” hay “hình phạt” mà đến phần khác là “cảnh cáo”. Vì vậy, cần đặt việc Bản quyền cảnh cáo lên đầu câu văn.
[50] Đ. 1339§3. De monitione et correptione constare semper debet saltem ex aliquo documento, quod in secreto curiae archivo servetur: Việc cảnh cáo hay khiển trách luôn phải được lưu lại ít là trong một tài liệu nào đó, được giữ trong văn khố mật của Toà Giám mục. Không nên dịch: Phải luôn luôn giữ lại chứng từ chắc chắn về việc cảnh cáo hay khiển trách, ít là bằng một tài liệu nào đó được giữ trong văn khố mật của Toà Giám mục.
Ở đây là vấn đề “lưu giữ” lại việc cảnh cáo hay khiển trách, phải trên giấy tờ, để sau này có dịp cần đến, xem xét lại sự việc. Do đó, nếu việc cảnh cáo hay khiển trách làm bằng miệng (x. triệt 1) mà không có văn bản thì cũng phải ghi lại trên một văn bản nào đó để lưu giữ. Nên biết rằng việc cảnh cáo có ảnh hưởng quan trọng, có tầm mức quyết định cho việc “thành sự” của phạt vạ. Điều 1347 §1 quy định: Không thể tuyên phạt một vạ cách thành sự, nếu trước đó phạm nhân đã không được cảnh cáo ít là một lần để chấm dứt sự ngoan cố của mình.
Cách dịch cũ “Phải luôn luôn giữ lại chứng từ chắc chắn” có thể bị hiểu lầm là chỉ giữ lại các văn bản tuyên phạt nếu thực sự đã có chắc chắn, và nếu không có văn tuyên phạt, chỉ có nói miệng thì không cần lưu giữ! Điều này quả là sai lầm.
Cách dịch mới: “Phải được lưu lại ít là trong một tài liệu nào đó” giúp hiểu đúng hơn. Nó có thể là văn bản cảnh cáo, hay một biên bản việc cảnh cáo, hay một ghi chép lại việc cảnh cáo bằng miệng.
Ở đây là vấn đề “lưu giữ” lại việc cảnh cáo hay khiển trách, phải trên giấy tờ, để sau này có dịp cần đến, xem xét lại sự việc. Do đó, nếu việc cảnh cáo hay khiển trách làm bằng miệng (x. triệt 1) mà không có văn bản thì cũng phải ghi lại trên một văn bản nào đó để lưu giữ. Nên biết rằng việc cảnh cáo có ảnh hưởng quan trọng, có tầm mức quyết định cho việc “thành sự” của phạt vạ. Điều 1347 §1 quy định: Không thể tuyên phạt một vạ cách thành sự, nếu trước đó phạm nhân đã không được cảnh cáo ít là một lần để chấm dứt sự ngoan cố của mình.
Cách dịch cũ “Phải luôn luôn giữ lại chứng từ chắc chắn” có thể bị hiểu lầm là chỉ giữ lại các văn bản tuyên phạt nếu thực sự đã có chắc chắn, và nếu không có văn tuyên phạt, chỉ có nói miệng thì không cần lưu giữ! Điều này quả là sai lầm.
Cách dịch mới: “Phải được lưu lại ít là trong một tài liệu nào đó” giúp hiểu đúng hơn. Nó có thể là văn bản cảnh cáo, hay một biên bản việc cảnh cáo, hay một ghi chép lại việc cảnh cáo bằng miệng.
[51] Đ. 1340§1. Paenitentia, quae imponi potest in foro externo, est aliquod religionis vel pietatis vel caritatis opus peragendum: Việc sám hối, việc mà có thể bị áp đặt ở toà ngoài, là thực hiện vài việc tôn giáo, đạo đức, hay bác ái. Không nên dịch: Việc Sám Hối có thể bị áp đặt ở toà ngoài hệ tại việc thực hiện một việc tôn giáo, đạo đức, hay bác ái. Đ. 1340§1 này có ý xác định việc sám hối “hình sự” là những việc gì. Nó là việc sám hối thuộc tòa ngoài, khác với sám hối thuộc tòa trong bí tích, vì bản Latin viết: Paenitentia, quae…: Sám hối, điều mà… (A penance, which… ). Còn việc sám hối thuộc bí tích hệ tại tấm lòng và được thể hiện qua một vài việc đền tội mà thường là nhẹ. Ở đây muốn nói đến việc áp đặt thực hiện một công việc có ý nghĩa sám hối do người có quyền phạt. Chúng ta thấy cấu trúc của điều 1340: §1 xác định công việc; §2 và §3 quy định về công việc này được thực hiện như thế nào.
[52] Đ. 1341 luật canh tân đặt ở mức độ phải (debet) xúc tiến phạt, trong khi luật cũ chỉ để cho Bản quyền lo liệu (curet) (và đã được dịch là: chỉ nên xúc tiến) Bản cũ: Ordinarius proceduram iudicialem vel administrativam ad poenas irrogandas vel declarandas tunc tantum promovendam curet. Bản canh tân: Ordinarius proceduram iudicialem vel administrativam ad poenas irrogandas vel declarandas promovere debet cum perspexerit
[53] Đ. 1341. Neque pastoralis sollicitudinis viis, praesertim fraterna correctione, neque monitione neque correptione satis: những phương thế nhắc nhở mục vụ, nhất là việc sửa chữa trong tình huynh đệ, việc cảnh cáo cũng như sự khiển trách, không thể… Không nên dịch có vẻ suy diễn: việc sửa chữa trong tình huynh đệ, việc khiển trách hay các phương thế khác trong đường lối mục vụ của ngài không thể…
[54] Đ. 1342. Iudicialis processus: tố tụng tư pháp (được xử bởi thẩm phán qua một tiến trình thủ tục của tòa án); decretum extra iudicium: sắc lệnh ngoại tư pháp (sắc lệnh hành pháp).
[55] Đ. 1343. Facultatem: năng quyền. Không nên dịch: quyền. Giáo luật phân biệt quyền (potestas) với năng quyền (facultas).
[56] Đ. 1344,30. Vitam laudabiliter: cuộc đời đáng khen. Không nên dịch: cuộc đời chính trực. Chữ “chính trực” chỉ nói về phương diện liêm chính, thẳng thắn. “Cuộc đời đáng khen“ có nghĩa rộng hơn về nhiều phương diện của đời sống đạo đức luân lý, tôn trọng luật lệ.
[57] Đ. 1345. Ex necessitate: do sự cần thiết. Không nên dịch: do nhu cầu. Nhu cầu chỉ là một phần trong những sự cần thiết. Vậy không nên giới hạn lại trong nhu cầu. Vấn đề này đã bàn ở đ. 1323,40.
[58] Đ. 1345 luật canh tân, sau khi đã quy định trường hợp thẩm phán có thể miễn phạt, điều luật đã thêm vào những tình huống “phải” phạt (puniri debet).
[59] Đ. 1346. Ordinarie tot poenae quot delicta (Ordinariamente tante sono le pene quanti i delitti) Thông thường càng phạm nhiều tội thì càng bị nhiều hình phạt. Không dịch: Mỗi khi phạm nhân đã thực hiện nhiều tội phạm. Ở đây nhắc đến một quy tắc thông thường là số hình phạt sẽ tỷ lệ thuận với số tội phạm: càng phạm nhiều tội thì càng bị nhiều hình phạt, chứ không đơn giản nói rằng mỗi khi phạm nhân phạm nhiều tội.
[60] Đ. 1346§2. Prudenti iudicis arbitrio relinquitur poenas intra aequos terminos moderari: thì tùy sự khôn ngoan của thẩm phán, xử phạt trong những giới hạn vừa phải. Không nên dịch: thì thẩm phán có quyền giảm bớt các hình phạt trong những giới hạn hợp tình hợp lý, tuỳ theo sự thẩm định khôn ngoan của mình. Cần phải dịch ngắn gọn và chính xác, không nên thêm “có quyền giảm bớt”, cũng không dịch cách suy diễn “hợp tình hợp lý” cho chữ “moderari”.
[61] Đ. 1347§2 Vere paenituerit: thật lòng thống hối. Không nên dịch: thật lòng hối hận. Chữ hối hận hay ân hận ít được dùng trong đạo và ít mang ý nghĩa.
[62] Đ. 1348. Cum reus ab accusatione absolvitur vel nulla poena ei irrogatur, Ordinarius potest opportunis monitis aliisque pastoralis sollicitudinis viis, vel etiam, si res ferat, poenalibus remediis eius utilitati et publico bono consulere.
Khi một phạm nhân không bị buộc tội hay không bị áp đặt một hình phạt nào cả, thì Đấng Bản quyền có thể tùy nghi cảnh cáo hay khuyên nhủ mục vụ, và ngay cả, vì lợi ích của người đó hoặc vì lợi ích chung, dùng những phương dược hình sự,, nếu sự việc đòi hỏi điều đó.
Không nên dịch:
Khi một phạm nhân không bị buộc tội hay không bị tuyên kết một hình phạt nào cả, thì Đấng Bản quyền có thể quan tâm đến lợi ích của đương sự cũng như đến công ích bằng việc cảnh cáo thích hợp và bằng những phương thế khác của lòng ưu tư mục vụ, hay cả bằng những dược hình, nếu sự việc đòi hỏi điều đó.
Điều 1348 này nói đến trường hợp phạm nhân có lỗi nhưng không đến độ bị trừng phạt. Trong trường hợp này, thẩm phán có thể tùy nghi cảnh cáo, khuyên nhủ hay có thể áp dụng cả phương dược hình sự. Tuy nhiên, khi dùng phương dược hình sự thì có vẻ như phạt (poenalibus remediis) thì cần có hai điều kiện: 1- Vì lợi ích chung và lợi ích đương sự, 2- sự việc đòi hỏi như vậy.
Bản dịch cũ không phân biệt được điều này khi đưa vấn đề lợi ích chung và lợi ích đương sự lên trên, chi phối cho cả việc cảnh cáo, khuyên nhủ mục vụ.
Khi một phạm nhân không bị buộc tội hay không bị áp đặt một hình phạt nào cả, thì Đấng Bản quyền có thể tùy nghi cảnh cáo hay khuyên nhủ mục vụ, và ngay cả, vì lợi ích của người đó hoặc vì lợi ích chung, dùng những phương dược hình sự,, nếu sự việc đòi hỏi điều đó.
Không nên dịch:
Khi một phạm nhân không bị buộc tội hay không bị tuyên kết một hình phạt nào cả, thì Đấng Bản quyền có thể quan tâm đến lợi ích của đương sự cũng như đến công ích bằng việc cảnh cáo thích hợp và bằng những phương thế khác của lòng ưu tư mục vụ, hay cả bằng những dược hình, nếu sự việc đòi hỏi điều đó.
Điều 1348 này nói đến trường hợp phạm nhân có lỗi nhưng không đến độ bị trừng phạt. Trong trường hợp này, thẩm phán có thể tùy nghi cảnh cáo, khuyên nhủ hay có thể áp dụng cả phương dược hình sự. Tuy nhiên, khi dùng phương dược hình sự thì có vẻ như phạt (poenalibus remediis) thì cần có hai điều kiện: 1- Vì lợi ích chung và lợi ích đương sự, 2- sự việc đòi hỏi như vậy.
Bản dịch cũ không phân biệt được điều này khi đưa vấn đề lợi ích chung và lợi ích đương sự lên trên, chi phối cho cả việc cảnh cáo, khuyên nhủ mục vụ.
[63] Đ. 1349 luật canh tân nói rõ hơn: trong trường hợp luật phạt không xác định rõ hình phạt, thì thẩm phán cần chọn hình phạt tương xứng với độ nặng và thiệt hại gây ra. Trong khi điều 1349 cũ chỉ nói: không được phạt nặng hơn. Một lối nói còn mơ hồ, vì không biết nặng hơn mức độ nào hay nặng hơn cái gì.
[64] Đ. 1350§2. Indigeat: túng thiếu. Không nên dịch bần cùng. Hai mức độ túng thiếu và bần cùng thì khác nhau. Ở đây, cần phải giúp phạm nhân giáo sĩ bị túng thiếu chứ không chờ đến bần cùng mới giúp.
[65] Đ. 1352. Obligatio servandi poenam latae sententiae, quae neque declarata sit neque sit notoria: Việc buộc phải tuân giữ một hình phạt tiền kết mà chưa được tuyên bố hay chưa được biết đến. Không dịch: Khi một hình phạt tiền kết chưa được công bố hay chưa được công khai. Hình phạt thì được tuyên bố chứ không nói là được công bố. Mặt khác, notoria không có nghĩa là công khai và tội ở đây không là vấn đề tội công khai (như tội tái hôn) hay tội kín ẩn (như tà dâm) mà là tội đã được người ta biết đến (notorius: pointing out, making known, causing to be known).
Điều 1352 nói đến trường hợp hình phạt tiền kết được đình chỉ khi tội còn trong bí mật. Ví dụ một linh mục phạm một tội có vạ tuyệt thông tiền kết chưa bị tuyên bố hoặc chưa được biết đến, thì điều cấm dâng lễ được đình chỉ, nghĩa là ngài vẫn có thể dâng lễ. Nếu không dâng lễ, thì không thể tránh được nguy cơ gây ra cớ vấp phạm nghiêm trọng hoặc bị mất thanh danh.
Điều 1352 nói đến trường hợp hình phạt tiền kết được đình chỉ khi tội còn trong bí mật. Ví dụ một linh mục phạm một tội có vạ tuyệt thông tiền kết chưa bị tuyên bố hoặc chưa được biết đến, thì điều cấm dâng lễ được đình chỉ, nghĩa là ngài vẫn có thể dâng lễ. Nếu không dâng lễ, thì không thể tránh được nguy cơ gây ra cớ vấp phạm nghiêm trọng hoặc bị mất thanh danh.
[66] Đề mục VI luật canh tân: DE POENARUM REMISSIONE ET DE ACTIONUM PRAESCRIPTIONE: SỰ THA HÌNH PHẠT VÀ THỜI HIỆU CỦA TỐ QUYỀN, thay cho đề mục cũ: SỰ CHẤM DỨT CỦA HÌNH PHẠT
[67] Đ. 1357. In foro interno sacramentali: ở toà trong thuộc bí tích. Không nên dịch: ở toà trong, lúc ban bí tích. Cần phân biệt hai loại tòa trong: thuộc bí tích (Giải tội) và không thuộc bí tích (linh hướng).
[68] Đ. 1357§2. In remissione concedenda confessarius paenitenti onus iniungat recurrendi intra mensem sub poena reincidentiae ad Superiorem competentem vel ad sacerdotem facultate praeditum, et standi huius mandatis: Khi tha vạ, cha giải tội phải buộc hối nhân trong vòng một tháng phải thượng cầu lên Bề trên có thẩm quyền hay lên tư tế có năng quyền và phải tuân theo quyết định của các ngài. Không dịch thêm thắt: … nếu bất tuân, thì sẽ mắc vạ lại… Điều luật này chủ ý đòi hối nhân phải thượng cầu, chứ không phải là đưa điều kiện vâng phục để không bị vạ lại.
[69] Đ. 1357§2. Congruam paenitentiam. Sám hối cân xứng. Không nên dịch: đền tội cân xứng. Việc sám hối (paenitentia) không đồng nghĩa với việc đền tội trong mục này. Việc làm để thực hiện việc sám hối thuộc thuộc tòa ngoài đã được điều 1340§1 nói đến. Ở đây, một trường hợp đặc biệt, việc sám hối được áp đặt ở tòa trong thuộc Bí tích.
[70] Đ. 1357§3. Cessante periculo, ii quibus ad normam can. 976: Sau khi đã qua cơn nguy hiểm, những người, chiếu theo quy tắc của điều 976. Trường hợp của điều 976 là trường hợp lâm cơn nguy tử, và sau đó, qua cơn nguy tử. Không nên dịch là đã được bình phục và cũng không nên để chủ điểm của điều luật này ở cuối câu như bản dịch cũ.
[71] Điều 1358. Remissio censurae dari non potest nisi delinquenti qui a contumacia: Không được phép tha vạ nếu phạm nhân vẫn còn ngoan cố. Không nên dịch: Vạ sẽ không được tha nếu phạm nhân vẫn còn ngoan cố. Đây là luật nói cho cấp trên có quyền tha vạ, quy định là tha hay không tha cho những trường hợp nào, chứ không có ý nói lên như một nguyên tắc chung: vạ sẽ không được tha… Nếu nói theo nguyên tắc chung như vậy sẽ gây hiểu lầm rằng tự chính vạ sẽ được tha hay không được tha là tùy vào sự sám hối hay không của phạm nhân, chứ không phải là tùy vào sự định đoạt của cấp trên có quyền tha.
[72] Đ. 1359. In petitione: trong thỉnh cầu. Không nên dịch thêm: trong đơn thỉnh cầu, vì có thể xin bằng miệng.
[73] Đ. 1360 luật canh tân bổ xung thêm những tình huống cho việc tha có giá trị, không còn đơn thuần ở tình huống bị sợ hãi.
[74] Đ. 1361§3 luật canh tân. Remissionis petitio vel ipsa remissio ne divulgetur: Việc xin tha hay chính việc tha hình phạt không được tiết lộ. Luật canh tân thay đổi kiểu nói cũ: Caveatur ne remissionis petitio vel ipsa remissio divulgetur: Phải cẩn thận đừng để việc xin tha hình phạt hay chính việc tha hình phạt bị tiết lộ. Luật canh tân quy định: Không được tiết lộ; không còn nói: Phải cẩn thận để không bị tiết lộ.
[75] Đ. 1361§4 luật canh tân được thêm vào, xác định những trường hợp không được phép tha hình phạt nếu phạm nhân chưa sửa chữa được thiệt hại đã gây ra. Hơn nữa, giáo quyên có thể thúc giục nạn nhân bồi hoàn bằng phạt thêm thục hình nói ở điều 1336 §§2-4.
[76] Đ. 1362 luật canh tân thêm một số thời hiệu của tố quyền đối với hình phạt.
[77] Đề mục 1 của phần 2 luật canh tân thay đổi: DE DELICTIS CONTRA FIDEM ET ECCLESIAE UNITATEM: NHỮNG TỘI PHẠM NGHỊCH LẠI ĐỨC TIN VÀ TÍNH DUY NHẤT CỦA GIÁO HỘI. Không nên dịch: Những tội chống lại đạo…
[78] Đ. 1366 luật canh tân thêm khoản phạt cho người thượng cầu chống lại Đức Giáo Hoàng.
[79] Đ. 1368. Qui in publico spectaculo vel concione, vel in scripto publice evulgato: Người nào, trong một trình diễn hay trong một tụ họp công cộng, hoặc trong một bài viết phổ biến công khai. Không nên dịch:: Trong một buổi biểu diễn, hoặc trong một hội nghị công cộng,… người nào (đ. 1369 cũ). Nên thay biểu diễn bằng trình diễn, hội nghị công cộng bằng tụ họp công cộng. Bản dịch cũ cũng bị thiếu hoặc trong một bài viết phổ biến công khai.
[80] Đề mục 2 của phần 2 luật canh tân đã thay đổi: DE DELICTIS CONTRA ECCLESIASTICAM AUCTORITATEM ET MUNERUM EXERCITIUM: NHỮNG TỘI PHẠM CHỐNG LẠI GIÁO QUYỀN VÀ VIỆC THI HÀNH NHIỆM VỤ. Không còn dùng đề mục: TỘI PHẠM CHỐNG LẠI NHÀ CHỨC TRÁCH GIÁO HỘI VÀ TỰ DO CỦA GIÁO HỘI
[81] Đ. 1371 luật canh tân thêm hình phạt thục tội (đ. 1336 §§2-6), cho những trường hợp khá mới mẻ, đối với người: bất vâng phục (§1), không thi hành điều buộc của bản án (§2), bí mật giáo hoàng (§4), không thực hiện một bản án mà có hiệu lực thi hành (§5), bỏ qua việc thông tri về một tội phạm mà buộc phải thông tri (§6). Triệt 3 của điều luật này lấy lại điều1368 cũ, phạt người thề gian trước nhà chức trách Giáo hội.
[82] Đ. 1371§3 (đ. 1368 cũ). Si quis, asserens vel promittens aliquid coram ecclesiastica auctoritate, periurium committit: Người nào khi quả quyết hay hứa một điều gì đó trước nhà chức trách Giáo hội mà thề gian. Không nên dịch: Người nào bội thề bằng cách quả quyết hay hứa một điều gì trước mặt nhà chức trách Giáo hội. Điều 1371§3 này nói đến “thề gian” hay “thề dối” khi tuyên thề trước mặt nhà chức trách, trong trường hợp trả lời thẩm vấn hay khai báo. Đây không phải là nói về “bội thề”, nghĩa là, nói về phản bội lại lời thề hứa đã làm trước đây.
[83] Đ. 1372,10. Perterrent: gây khiếp sợ (khủng bố tinh thần). Không nên dịch là hăm dọa, vì ở mức độ hăm dọa thì chưa đủ nặng để bị phạt.
[84] Ð. 1376 luật canh tân thêm những trường hợp phạt mới liên hệ tới tài sản vật chất; phạt người: lấy cắp tài sản thuộc Giáo hội; bỏ qua việc tham khảo ý kiến hay sự chấp thuận mà luật đòi hỏi khi chuyển nhượng tài sản Giáo hội; phạt và bắt bồi thường thiệt hại khi chuyển nhượng trái phép hoặc khi chểnh mảng việc quản lý tài sản thuộc Giáo hội.
[85] Ð. 1377 luật canh tân thêm: Phạt người biếu và nhận quà hối lộ trong công vụ.
[86] Điều 1379 của luật canh tân thêm: phạt người truyền chức cho người nữ (§3); người có chủ ý ban bí tích cho người bị cấm lãnh nhận (§4).
[87] Đ. 1382 và các điều khác: non exclusa dimissione e statu clericali: không loại trừ việc sa thải khỏi hàng giáo sĩ. Không nên dịch: kể cả thải hồi khỏi bậc giáo sĩ. Nếu dịch “kể cả”, có thể hiểu lầm là “thêm”. Cũng không nên dịch là “bậc giáo sĩ”, vì Bộ Giáo luật Việt ngữ thường dùng chữ “hàng” giáo sĩ và “bậc” sống thánh hiến, như điều 588§1 nói: Bậc sống thánh hiến, tự bản chất, không thuộc hàng giáo sĩ, cũng chẳng thuộc hàng giáo dân.
[88] Ð.1386§3 luật canh tân thêm: Phạt người thu âm, loan truyền điều hối nhân nói trong Bí tích Giải tội.
[89] Điều 1388§1. Litteris dimissoriis: ủy nhiệm thư. Không nên dịch là thư giới thiệu, vì sẽ gây hiểu lầm về thẩm quyền phong chức của vị viết thư. Theo Giáo luật, vị Giám mục viết thư có thẩm quyền hợp luật để phong chức, còn vị Giám mục nhận thư thì không có thẩm quyền. Nếu nói là thư giới thiệu sẽ bị hiểu sai lầm rằng thẩm quyền phong chức không tùy thuộc vào Giám mục viết thư, vì chỉ viết thư để giới thiệu (Tương tự như việc cha sở viết thư giới thiệu hôn phối).
[90] Đ. 1388§1 và các điều khác. Ipso facto: (tự động) do chính sự kiện. Tuy sự tự động do chính sự kiện này cũng có thể nói là tức khắc, nhưng từ ngữ “tức khắc“ là muốn ám chỉ về thời gian. Và như vậy, có thể có trường hợp phạm nhân bị giáo quyền phạt tiền kết ngay tức khắc. Điều này nghịch nghĩa với hình phạt tiền kết.
[91] Đ. 1388§2 luật canh tân thêm: Phạt tiền kết vạ huyền chức ứng sinh chức thánh nào cố ý giấu hay im lặng về vạ hay điều bất hợp luật chịu chức mà mình mắc phải, được nói ở điều 1041. Ví dụ, đã tích cực cộng tác phá thai (đ. 1041,40).
[92] Đề mục IV luật canh tân thêm: NHỮNG TỘI PHẠM CHỐNG LẠI THANH DANH.
[93] Đ. 1390§3 luật canh tân sửa đổi: phải (debet) bị bắt buộc bồi thường. Luật cũ chỉ nói là có thể (potest) bị bắt buộc phải bồi thường.
[94] Đ. 1391,10. Documentum publicum: tài liệu công. Không được dịch: công văn. Công văn chỉ là một trong những loại của tài liệu công. Vì vậy không được giới hạn tài liệu công vào công văn. Ví dụ, bản án của tòa án là một tài liệu công nhưng không được gọi là công văn.
[95] Đ. 1391,30. Qui in publico ecclesiastico documento falsum asserit: Người khẳng định điều nào đó là sai lạc trong một tài liệu công thuộc Giáo hội. Không dịch: Người khẳng định một điều nguỵ tạo trong một công văn thuộc Giáo hội. Đ. 1391,30 này có ý nói đến người khẳng định Giáo hội dạy điều nào đó là sai lạc; không có ý nói người khám phá thấy và khẳng định có điều gì đó giả mạo hay ngụy tạo trong công văn. Ngược lại, người nào thấy hay khám phá ra điều giả mạo hay ngụy tạo trong công văn là người có công tìm tòi, nghiên cứu, không thể nào bị phạt.
[96] Đề mục IV: DE DELICTIS CONTRA SPECIALES OBLIGATIONES: NHỮNG TỘI PHẠM NGHỊCH NHỮNG ĐÒI BUỘC ĐẶC BIỆT. Không nên dịch TỘI PHẠM NGHỊCH VỚI CÁC NGHĨA VỤ ĐẶC BIỆT. Obligationes ở đây không nên dịch là bổn phận hay nghĩa vụ theo nghĩa luân lý, nhưng là những điều bắt buộc hay đòi buộc thuộc pháp lý. Ví dụ, giáo sĩ hay tu sĩ không được làm thương mại hay buôn bán, không được kết hôn, tư hôn là những điều buộc, chứ không phải là vi phạm các nghĩa vụ.
[97] Ð. 1392 luật canh tân thêm: Phạt Giáo sĩ nào bỏ thừa tác vụ thánh một cách tự ý và bất hợp pháp trong sáu tháng liên tục.
[98]Ðiều 1393§1. Mercaturam vel negotiationem contra canonum praescripta exercens: Giáo sĩ hay tu sĩ nào, hoạt động thương mại hay buôn bán , nghịch với những quy định của luật. Không nên dịch: Giáo sĩ hay tu sĩ hành nghề thương mại hay kinh doanh nghịch với những quy định của các điều luật. Tự điển La – Ý cho thấy:
– mercatura: commercio, traffico: buôn bán, thương mại
– negotiatio: commercio in grande, affare, traffico: buôn bán lớn, thương mại lớn
Ta thấy, cả hai chữ “mercatura” và “negotiatio” đều có nghĩa về buôn bán hay thương mại, chỉ khác nhau ở mức độ. Còn chữ “kinh doanh” trong tiếng Việt thì rộng nghĩa hơn, bao hàm cả những việc đầu tư sản xuất lớn nông nghiệp, công nghiệp. Việc sản xuất như vậy, một số tu sĩ vẫn làm. Theo nguyên tắc luật hình sự phải được hiểu theo nghĩa hẹp (đ. 18). Vậy chỉ dịch là “thương mại hay buôn bán” không dịch là “thương mại hay kinh doanh”.
Theo nhà chú giải Thomas J. Green, cả hai là những hoạt động thương mại (commercial activities); và ông cũng nói khó mà phân biệt rõ ràng chính xác đâu là những hoạt động thương mại bị cấm: “… Given the difficulty of clarifying precisely what constitutes such prohibited commercial activities“. (BEAL J.P. et alii, New Commentary on the Code of Canon Law, Paulist Press, New York 2000, p. 1596-1597). Cũng lưu ý là, Giáo luật lại hạn định vào những hoạt động nào mà nghịch với quy định của Giáo luật.
– mercatura: commercio, traffico: buôn bán, thương mại
– negotiatio: commercio in grande, affare, traffico: buôn bán lớn, thương mại lớn
Ta thấy, cả hai chữ “mercatura” và “negotiatio” đều có nghĩa về buôn bán hay thương mại, chỉ khác nhau ở mức độ. Còn chữ “kinh doanh” trong tiếng Việt thì rộng nghĩa hơn, bao hàm cả những việc đầu tư sản xuất lớn nông nghiệp, công nghiệp. Việc sản xuất như vậy, một số tu sĩ vẫn làm. Theo nguyên tắc luật hình sự phải được hiểu theo nghĩa hẹp (đ. 18). Vậy chỉ dịch là “thương mại hay buôn bán” không dịch là “thương mại hay kinh doanh”.
Theo nhà chú giải Thomas J. Green, cả hai là những hoạt động thương mại (commercial activities); và ông cũng nói khó mà phân biệt rõ ràng chính xác đâu là những hoạt động thương mại bị cấm: “… Given the difficulty of clarifying precisely what constitutes such prohibited commercial activities“. (BEAL J.P. et alii, New Commentary on the Code of Canon Law, Paulist Press, New York 2000, p. 1596-1597). Cũng lưu ý là, Giáo luật lại hạn định vào những hoạt động nào mà nghịch với quy định của Giáo luật.
[99] Ðiều 1394§1. Clericus matrimonium, etiam civiliter tantum, attentans: Giáo sĩ nào dám kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự. Không dịch: giáo sĩ nào mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự. Khi dịch “mưu toan kết hôn” như bản cũ, thì bị hiểu là hành vi ở trong ý chí (mưu toan) chứ chưa thể hiện ra bên ngoài. Và như vậy thì không đúng với nguyên tắc luật hình sự, là chỉ phạt khi vi phạm thể hiện bên ngoài. Động từ to attempt trong tiếng Anh có nghĩa: 1- cố gắng; thử, toan, “to attempt a hard task” : “cố gắng làm một việc khó khăn”; 2- mưu hại; xâm phạm, phạm đến; 3- gắng, chiếm lấy, thử đánh chiếm (một đồn…); 4. gắng, vượt qua (quả núi…)
Các nghĩa cho thấy đây là hành vi đã cố hay thử làm chứ không là hành vi chỉ trong ý muốn hay toan tính. Vậy thì nên dịch là đã “dám” kết hôn, chỉ một hành vi đã thực hiện cùng với ý chí cả gan phạm trọng tội. Thực ra, bản dịch cũ đã dùng chữ “dám” (attentans) này ở điều 1379 (đ. 1378§2 cũ), phạt nặng những người: không có chức tư tế mà dám cử hành phụng vụ Thánh Thể; không thể ban thành sự xá giải bí tích, mà lại dám ban xá giải hay nghe xưng tội bí tích; dám truyền chức thánh cho một người nữ.
Các nghĩa cho thấy đây là hành vi đã cố hay thử làm chứ không là hành vi chỉ trong ý muốn hay toan tính. Vậy thì nên dịch là đã “dám” kết hôn, chỉ một hành vi đã thực hiện cùng với ý chí cả gan phạm trọng tội. Thực ra, bản dịch cũ đã dùng chữ “dám” (attentans) này ở điều 1379 (đ. 1378§2 cũ), phạt nặng những người: không có chức tư tế mà dám cử hành phụng vụ Thánh Thể; không thể ban thành sự xá giải bí tích, mà lại dám ban xá giải hay nghe xưng tội bí tích; dám truyền chức thánh cho một người nữ.
[100] Đ. 1394§1 luật canh tân nói mạnh hơn, là “phải” (debet) phạt, không còn nói “có thể” (potest) phạt.
[101] Đ. 1394§2 luật canh tân thêm: Phạt giáo sĩ nào có tội tà dâm một cách công khai.
[102] Đ. 1395§ luật canh tân không còn ấn định phạm tội với trẻ vị thành niên dưới 16 tuổi nữa ở điều luật này, nhưng lại nói đến ở điều 1398 và ấn định là phạm tội với trẻ vị thành niên, tức là với trẻ chưa đủ 18 tuổi trọn.
[103] Đề mục VI luật canh tân thay đổi: CÁC TỘI PHẠM NGHỊCH LẠI PHẨM GIÁ VÀ SỰ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI thay cho đề mục cũ: TỘI PHẠM ĐẾN SỰ SỐNG VÀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI.
[104] Đ. 1398 luật canh tân thêm: Phạt giáo sĩ, tu sĩ về tội nghịch điều răn thứ sáu với trẻ vị thành niên hoặc người thường xuyên sử dụng trí khôn cách bất toàn, người không thể tự bảo vệ.