• Trang Chủ
  • Giới Thiệu
    • Tổng Quan Giáo Phận
      • Lịch Sử Giáo Phận
      • Niên Giám Giáo Phận
      • Bản Đồ Giáo Phận
      • Truyền Giáo - Bác Ái Xã Hội
    • Giám Mục Giáo Phận
      • Tiểu Sử Đức Giám Mục Đương Nhiệm
      • Bài Giảng Đức Giám Mục
      • Các Đức Giám Mục Tiền Nhiệm
    • Danh Sách Linh Mục
    • Đại Chủng Viện Và Dòng Tu
      • Đại Chủng Viện Minh Hoà
      • Tu Đoàn Tông Đồ ICM
      • Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt
      • Dòng Chứng Nhân Đức Tin
      • Đan Viện Cát Minh Têrêsa Đà Lạt
      • Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn
      • Các Dòng Tu Khác
    • Giáo Hạt Và Giáo Xứ
      • Giáo Hạt Đà Lạt
      • Giáo Hạt Bảo Lộc
      • Giáo Hạt Di Linh
      • Giáo Hạt Đạ Tông
      • Giáo Hạt Đơn Dương
      • Giáo Hạt Đức Trọng
      • Giáo Hạt Madaguôi
    • Giờ Lễ
  • Phụng Vụ
    • Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
      • Mùa Thường Niên
      • Mùa Vọng – Giáng Sinh
      • Mùa Chay – Phục Sinh
      • Lễ Ngoại Lịch
    • Chư Thánh
    • Lời Nguyện Tín Hữu
      • Năm A
      • Năm B
      • Năm C
      • Lễ Chung
    • Nghi Thức Và Kinh Nguyện
      • Kinh Nguyện
      • Nghi Thức
    • Giờ Kinh Phụng Vụ
  • Mục Vụ
    • Thiếu Nhi
    • Giới Trẻ
    • Hôn Nhân – Gia Đình
    • Truyền Giáo
    • Caritas
    • Di Dân
    • Truyền Thông
    • Thánh Nhạc
    • Tham Khảo Mục Vụ
  • Tin Tức
    • Tin Tức Giáo Phận
    • Tin Tức Giáo Hội Việt Nam
    • Tin Tức Giáo Hội Hoàn Vũ
    • Thông Báo
    • Cáo Phó Và Hiệp Thông
  • Tài Liệu
    • Văn Kiện Giáo Hội Hoàn Vũ
      • Đức Thánh Cha
      • Công Đồng Chung
      • Thượng Hội Đồng Giám Mục
      • Các Bộ Giáo Triều
      • Tài Liệu Khác Toà Thánh
    • Văn Kiện Hội Đồng Giám Mục
      • Thư Chung
      • Thư Mục Vụ Của Các Giám Mục
      • Thư Mục Vụ Của Hội Đồng Giám Mục
      • Tài Liệu Khác HĐGM
    • Văn Kiện Giáo Phận
      • Thư Mục Vụ
      • Sắc Lệnh Và Quy Chế
      • Thường Huấn Linh Mục
      • Tĩnh Tâm Linh Mục
      • Tài Liệu Khác Giáo Phận
    • Kinh Thánh
      • Chia Sẻ Lời Chúa
      • Tìm Hiểu Kinh Thánh
    • Giáo Lý
      • Giáo Lý Dự Tòng
      • Giáo Lý Phổ Thông
      • Giáo Lý Hôn Nhân
      • Tài Liệu Khác
    • Tu Đức – Nhân Bản
    • Triết Học
      • Đông Phương
      • Tây Phương
    • Thần Học
      • Phụng Vụ – Bí Tích
      • Tín Lý
      • Luân Lý
      • Mục Vụ
      • Học Thuyết Xã Hội
      • Giáo Phụ
      • Suy Tư Thần Học
    • Giáo Luật
    • Lịch Sử Giáo Hội
    • Tham Khảo
  • Media
    • Thánh Lễ
    • Bài Giảng
    • Suy Niệm Lời Chúa
    • Chầu Thánh Thể
    • Giáo Lý
    • Nhạc Thánh Ca
    • Giới Thiệu Giáo Xứ
    • Thắng Cảnh Tôn Giáo
    • Video Sinh Hoạt
   
Không Có Kết Quả
Xem Tất Cả
  • Trang Chủ
  • Giới Thiệu
    • Tổng Quan Giáo Phận
      • Lịch Sử Giáo Phận
      • Niên Giám Giáo Phận
      • Bản Đồ Giáo Phận
      • Truyền Giáo - Bác Ái Xã Hội
    • Giám Mục Giáo Phận
      • Tiểu Sử Đức Giám Mục Đương Nhiệm
      • Bài Giảng Đức Giám Mục
      • Các Đức Giám Mục Tiền Nhiệm
    • Danh Sách Linh Mục
    • Đại Chủng Viện Và Dòng Tu
      • Đại Chủng Viện Minh Hoà
      • Tu Đoàn Tông Đồ ICM
      • Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt
      • Dòng Chứng Nhân Đức Tin
      • Đan Viện Cát Minh Têrêsa Đà Lạt
      • Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn
      • Các Dòng Tu Khác
    • Giáo Hạt Và Giáo Xứ
      • Giáo Hạt Đà Lạt
      • Giáo Hạt Bảo Lộc
      • Giáo Hạt Di Linh
      • Giáo Hạt Đạ Tông
      • Giáo Hạt Đơn Dương
      • Giáo Hạt Đức Trọng
      • Giáo Hạt Madaguôi
    • Giờ Lễ
  • Phụng Vụ
    • Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
      • Mùa Thường Niên
      • Mùa Vọng – Giáng Sinh
      • Mùa Chay – Phục Sinh
      • Lễ Ngoại Lịch
    • Chư Thánh
    • Lời Nguyện Tín Hữu
      • Năm A
      • Năm B
      • Năm C
      • Lễ Chung
    • Nghi Thức Và Kinh Nguyện
      • Kinh Nguyện
      • Nghi Thức
    • Giờ Kinh Phụng Vụ
  • Mục Vụ
    • Thiếu Nhi
    • Giới Trẻ
    • Hôn Nhân – Gia Đình
    • Truyền Giáo
    • Caritas
    • Di Dân
    • Truyền Thông
    • Thánh Nhạc
    • Tham Khảo Mục Vụ
  • Tin Tức
    • Tin Tức Giáo Phận
    • Tin Tức Giáo Hội Việt Nam
    • Tin Tức Giáo Hội Hoàn Vũ
    • Thông Báo
    • Cáo Phó Và Hiệp Thông
  • Tài Liệu
    • Văn Kiện Giáo Hội Hoàn Vũ
      • Đức Thánh Cha
      • Công Đồng Chung
      • Thượng Hội Đồng Giám Mục
      • Các Bộ Giáo Triều
      • Tài Liệu Khác Toà Thánh
    • Văn Kiện Hội Đồng Giám Mục
      • Thư Chung
      • Thư Mục Vụ Của Các Giám Mục
      • Thư Mục Vụ Của Hội Đồng Giám Mục
      • Tài Liệu Khác HĐGM
    • Văn Kiện Giáo Phận
      • Thư Mục Vụ
      • Sắc Lệnh Và Quy Chế
      • Thường Huấn Linh Mục
      • Tĩnh Tâm Linh Mục
      • Tài Liệu Khác Giáo Phận
    • Kinh Thánh
      • Chia Sẻ Lời Chúa
      • Tìm Hiểu Kinh Thánh
    • Giáo Lý
      • Giáo Lý Dự Tòng
      • Giáo Lý Phổ Thông
      • Giáo Lý Hôn Nhân
      • Tài Liệu Khác
    • Tu Đức – Nhân Bản
    • Triết Học
      • Đông Phương
      • Tây Phương
    • Thần Học
      • Phụng Vụ – Bí Tích
      • Tín Lý
      • Luân Lý
      • Mục Vụ
      • Học Thuyết Xã Hội
      • Giáo Phụ
      • Suy Tư Thần Học
    • Giáo Luật
    • Lịch Sử Giáo Hội
    • Tham Khảo
  • Media
    • Thánh Lễ
    • Bài Giảng
    • Suy Niệm Lời Chúa
    • Chầu Thánh Thể
    • Giáo Lý
    • Nhạc Thánh Ca
    • Giới Thiệu Giáo Xứ
    • Thắng Cảnh Tôn Giáo
    • Video Sinh Hoạt
Giáo Phận Đà Lạt
   
No Result
View All Result

Ngày 1 tháng 1: CUỐI TUẦN BÁT NHẬT GIÁNG SINH, THÁNH MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

Ngày Đăng: 20/01/2023
Trong Mùa Vọng - Giáng Sinh, Tháng 1

Các người chăn chiên gặp bà Maria, ông Giuse và Hài Nhi.
Được đủ tám ngày, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu.

Bài Đọc 1: Ds 6, 22-27

Khi chúng kêu cầu danh Ta cho con cái Israel, Ta sẽ ban phúc lành.

Bài trích sách Dân số.

Đức Chúa phán với ông Môsê:  “Hãy nói với Aharon và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Israel, anh em hãy nói thế này: ‘Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em, và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn, và ban bình an cho anh em!’ Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.”

Đáp Ca: Tv 66,2-3.5.6 và 8 (Đ. c.2a)

Đáp: Nguyện Chúa Trời rủ thương và chúc phúc cho chúng con.

Xướng: Nguyện Chúa Trời rủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con,
cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài.

Xướng: Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này.

Xướng: Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!

Bài Đọc 2: Gl 4, 4-7

Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ.

Bài trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Galát.

Thưa anh em, khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Ápba, Cha ơi!” Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.

Alleluia: Dt 1, 1-2

Alleluia, alleluia! – Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. – Alleluia.

Tin Mừng: Lc 2, 16-21

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, các người chăn chiên hối hả ra đi đến Bêlem. Họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này. Tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho biết.

Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.

Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.

SUY NIỆM

A/ 5 phút với Lời Chúa

GHI NHỚ VÀ SUY GẪM

Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. (Lc 2,19)

Suy niệm: “Những kỷ niệm ấy” đối với Đức Maria cho đến lúc này là gì, nếu không phải là những điều kỳ diệu Mẹ đã đón nhận trong ngày thiên sứ truyền tin? Thế nhưng cũng từ đó, xảy đến biết bao sự cố phiền muộn và hiểm nguy nữa, trái ngược với những gì đáng mong đợi từ hồng ân được làm Mẹ Thiên Chúa. Thật vậy, “Con Đấng Tối Cao” sao lại lang thang vô gia cư ngay tại quê hương mình? “Ngai vàng vua Đavít” sao lại là máng cỏ hang lừa?!! Giờ đây, Mẹ lại nghe các người chăn chiên kể lại điều mà họ nghe thiên sứ “nói về Hài Nhi”: “Đấng Kitô, Đức Chúa” hiện thân nơi “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12). Trước những sự kỳ diệu đan xen với nghịch cảnh ấy, Đức Maria, là Mẹ Thiên Chúa, với tâm tình của người nữ tỳ khiêm tốn, chỉ biết “ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng”.

Mời Bạn: Như lời Thánh vịnh: “Kìa vực thẳm kêu gào vực thẳm” (Tv 41,8), thánh ý Chúa thật kỳ diệu khiến chúng ta chưa hiểu thấu mầu nhiệm này của Ngài thì những mầu nhiệm khác lại mở ra còn sâu thẳm hơn. Trong đời của bạn cũng diễn ra những điều rất đỗi bình thường nhưng lại chứa đựng biết bao diệu kỳ Chúa thực hiện nơi bạn. Bạn có thể khám phá và chiêm ngưỡng những mầu nhiệm ấy khi bạn bắt chước Mẹ Maria “ghi nhớ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.”

Sống Lời Chúa: Bạn dành thời gian mỗi ngày để suy gẫm điều kỳ diệu Chúa làm nơi bạn.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, linh hồn con ngợi khen Chúa, vì Chúa đã thực hiện cho con biết bao điều cao cả. Amen.

B/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

I. CẦN THIẾT CÓ MỘT NGƯỜI MẸ

Con chim nó hót trên cao
Nếu không có mẹ làm sao có mình?
Con chim nó hót trên cành
Nếu không có mẹ thì mình làm sao?
(Ca dao)

1. Câu đố nói lên một cách thống thiết con người cần phải có cha có mẹ vì “Không ai ở chỗ nẻ chui lên”. Đó là nguồn cội của con người. Chim có tổ, nước có nguồn, con người phải có tổ ấm, phải có gia đình.

Chúa Giêsu khi bước xuống trần gian này cũng không muốn sống ngoài định luật của con người. Ngài cũng có mẹ có cha. Đó là tính cách rất người của Chúa Giêsu. Chúa không muốn trở thành một vị tiên giáng trần hay một Phù Đổng Thiên Vương vươn vai rồi lớn lên hay như một vị khác thường từ trời giáng thế. Chúa đã chọn con đường bình thường như mọi người là có một gia đình để sinh ra. Đức Maria chính là người đã sinh ra Chúa Giêsu.

2. Kinh thánh Tân ước đã chứng minh Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu trong nhiều trường hợp:

– Trong Tin mừng thánh lễ hôm nay, thánh Luca đã viết: “Các mục đồng liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,16). Đó là gia đình của Chúa Giêsu mà bà Maria là thân mẫu và ông Giuse là cha nuôi Ngài.

– Khi đến truyền tin, sứ thần Gabriel đã báo cho Đức Maria biết Ngài sẽ là Mẹ Thiên Chúa: “Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con trai, tên Ngài là Giêsu… Ngài sẽ là Con Đấng cao cả… và là Con Thiên Chúa” (Lc 1,31,35-36).

– Trong dịp đi thăm viếng bà chị họ Elisabeth, Thiên Chúa lại công bố việc Ngài chọn Đức Maria làm Mẹ. Khi hai chị em gặp nhau, đột nhiên bà Elisabeth tự động nói một câu lạ tai, nếu không dám nói là bạo miệng:“Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi” (Lc 1,43). Chúng ta không thắc mắc về câu nói đó, vì đã có thánh Luca giải thích: “Bà được đầy Thánh linh soi sáng” (Lc 1,41).

– Trong dịp đi lễ đền thờ Giêrusalem, hai ông bà lạc mất con, sau ba ngày trở lại đền thờ thấy Chúa Giêsu đang ngồi giữa các thầy dạy, đàm đạo với họ. Đức Maria vừa vui mừng vừa mắng yêu con: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ con như vậy ? Con không thấy, cha con và mẹ đây đã phải cực nhọc tìm con ?” (Lc 2,48)

3. Như vậy, sứ thần Gabriel – Thánh Linh – bà Elisabeth – Đức Mẹ nói rõ ra chưa đủ, Chúa Giêsu còn bổ khuyết: “Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao ?” (Lc 2,49)

Cha của con ở đây là ai ? Dĩ nhiên không phải thánh Giuse, vì thánh Giuse đang đi tìm Chúa, nên phải hiểu “Cha của con”, Chúa nói đây là Thiên Chúa Cha – Cha của Ngài. Do đó, việc Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa lại càng sáng tỏ hơn nữa.

II. ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA

1. Xưa nay mọi người vẫn tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, vì chúng ta lý luận rằng: gọi là mẹ những người đàn bà đã thật sự sinh con. Bà Maria đã thực sự sinh con là Chúa Giêsu. Mà Chúa Giêsu theo các chứng đã nêu trên là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa thật “Cha Ta và Ta là một” (Ga 10,30; 17,11.22). Cho nên bà Maria là Mẹ Thiên Chúa.

2. Tước hiệu “Đức Maria Mẹ Thiên Chúa” là một tước hiệu đã có từ lâu đời trong Giáo hội. Nhưng tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa” không có trong bản văn Tân ước. Tước hiệu này được đề cập lần đầu tiên trong tài liệu của thánh Hippolytô (+235) ở Rôma. Sau đó thượng phụ giáo chủ Constantinople là Nestoriô (428) dựa trên quan điểm Kitô học riêng của mình đã phản đối việc xưng tụng Đức Maria dưới tước hiệu này.

3. Theo Nestôriô, chỉ nên gọi Maria là Mẹ Đức Giêsu Kitô, chứ không được gọi là Mẹ Thiên Chúa, vì theo ông, Con Thiên Chúa là một hữu thể, con Đức Maria là một hữu thể khác, vì ông cho rằng: Chúa Kitô có hai ngôi vị, đó là ngôi vị Thiên Chúa (Ngôi Lời) và ngôi vị con người (Giêsu). Như thế, Đức Maria không thể được gọi là “Theotokos” (Mẹ Thiên Chúa) ít nhất là theo ý nghĩa thực của hành vi ngôi hiệp (hợp nhất bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại trong một ngôi vị duy nhất của Chúa Kitô).

4. Thế nên, vào năm 431, Giáo hội đã triệu tập Công đồng Êphêsô dưới sự chủ toạ của thánh Cyrillô, các nghị phụ trong công đồng này đã tuyên bố cách chức giáo chủ Nestôriô và đánh đổ lạc thuyết của ông ta. Công đồng đã định tín Maria là Mẹ Thiên Chúa, vì thực sự Mẹ đã sinh ra Con-Thiên-Chúa-Làm-Người. Từ công đồng Êphêsô, tước hiệu Maria Mẹ Thiên Chúa đã trở thành tước hiệu chính thức của Đức trinh Nữ Maria. Từ công đồng này, chúng ta có phần sau của kinh Kính Mừng: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.

5. Công đồng Vatican II cũng tái xác quyết địa vị Mẹ Thiên Chúa: “Đức trinh nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem sự sống đến cho thế gian. Ngài được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa” (Lumen gentium, số 53).

Truyện: Mẹ Tổng thống

Ngày 20.01.1961 John Kennedy Tổng thống thứ 35 của Hoa kỳ, một người Công giáo đầu tiên giữ chức vụ chóp bu. Trong ngày nhậm chức, có mặt tất cả dòng họ Kennedy, cùng bà mẹ đứng một chỗ danh dự. Vào lúc John Kennedy thề nhậm chức và trở thành Tổng thống thì Rosa Kennedy trở thành mẹ của Tổng thống.

Khi bà sinh John vào năm 1917, bà đã cho đất nước Hoa Kỳ một con người mà sau này làm Tổng thống. Bà không sinh ra một con người Tổng thống. Nhưng thực sự và đúng là mẹ của một Tổng thống.

6. Một cách tương tự, nhưng không y hệt như thế, chúng ta xưng tụng Đức Nữ Đồng trinh là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu Kitô Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người. Đức Maria không sinh ra Chúa là Chúa, Đức Maria cũng không phải là Chúa hay Bà Chúa. Mẹ là một con người có hạn, được vinh dự dâng hiến bản tính nhân loại cho Ngôi Con trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Qua Mẹ, Đức Giêsu là một người thật và cũng là Thiên Chúa thật. Đó là chân lý chúng ta mừng lễ hôm nay. Ngày đầu năm dương lịch (Gm. Arthur Tonne).

7. Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu vì đã sinh ra Ngài đúng nghĩa, chúng ta cũng là con cái Mẹ Maria theo nghĩa thiêng liêng và trở nên anh em với Chúa Giêsu. Chúng ta không còn phải mồ côi, vì đã có người Mẹ yêu thương và săn sóc dìu dắt. Phúc cho những người con nào có mẹ. Thật hạnh phúc cho chúng ta khi chúng ta có thể mở miệng ra kêu: “Mẹ ơi”, như lời ca trong ca khúc “Bông hồng cài áo” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ: “Một bông hồng cho anh, một bông hồng cho em, một bông hồng cho những ai đang còn mẹ… Thì xin em hãy cùng tôi vui sướng lên, hãy cùng tôi vui sướng lên…”.

8. Nếu chúng ta đang tìm cho mình một hướng đi trong năm mới, thiết tưởng không một hướng đi nào vừa bảo đảm lại vừa tốt đẹp cho bằng hãy chạy đến với Đức Maria. Với chức vụ làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ có đủ khả năng để bầu cử và giúp đỡ chúng ta. Với địa vị là mẹ chúng ta, Mẹ có đủ tình thương để sẵn sàng thực hiện những điều chúng ta van xin, vì vậy chúng ta hay thường đọc:

Xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến kêu xin cùng Mẹ mà Mẹ chẳng nhận lời (Kinh Hãy nhớ). Hay như thánh Bênađô đã bảo: “Kêu xin Mẹ, chúng ta sẽ không bao giờ lầm đường lạc lối”.

III. ĐỨC MARIA, NỮ VƯƠNG HOÀ BÌNH

1. Hôm nay, các mục đồng lại kể thêm về các lời của thiên sứ. Hài nhi trong máng cỏ là Đấng Cứu Thế, các thiên thần đã xướng ca:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.

Như vậy, Giêsu, Con của Đức Maria thực hiện lời tiên tri hứa cùng nhà Đavít. Ngài sẽ đem lại hoà bình cho Dân Chúa và vinh quang cho Thiên Chúa. Đức Maria hôm nay gẫm suy những điều ấy. Đấng Cứu Thế đem lại hoà bình, Ngài là Hoàng tử hòa bình, là Vua hòa bình.

Ý thức được quyền uy cao cả của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Giáo hội luôn kêu xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa Giêsu Hài đồng, Con Mẹ ban cho thế giới được bình an trong năm mới.

2. Chính Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã đặt ngày 1/1 dương lịch hàng năm làm ngày cầu cho hòa bình thế giới. Ngài viết trong tông huấn Marialis Cultus như sau: “Khi canh tân mùa Giáng Sinh, mọi người phải chú ý đến việc tái lập lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa vào ngày 1/1 đúng Phụng vụ Rôma từ xưa, nhằm tôn kính địa vị đặc biệt của Mẹ, Đấng tiếp nhận nguồn gốc là Đức Giêsu. Lễ này là dịp rất tốt để chúng ta tôn thờ Vua hoà bình mới sinh ra và nghe lại lời chúc hoà bình của các thiên sứ và cũng để cầu Chúa Hài nhi, nhờ sự can thiệp của Nữ Vương Hoà Bình ban cho chúng ta ơn cao cả nhất là ơn hoà bình” (Marialis Cultus, số 5).

3. Hoà bình không những là khát vọng của mỗi người mà còn là ước vọng của cả nhân loại. Hoà bình là quà tặng quý giá nhất Thiên Chúa ban cho nhân loại: “Thầy để bình anh cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con” (Ga 14,27). Hoà bình khởi đi trong tâm hồn. Con Thiên Chúa đã ban cho nhân loại sự bình an đích thực.

Hoà bình không phải chỉ là chấm dứt chiến tranh. Hoà bình còn là xây dựng bình đẳng, ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc nữa. Phần tích cực có thể nói còn giấu nhiều mặt hơn tiêu cực. Hết chiến tranh cũng chưa phải là đã hết những hậu quả của chiến tranh là những thương tích, đổ vỡ vật chất và tinh thần. Chúng ta phải cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới. Hoà bình hạnh phúc phải là khí thở của mọi người trên thế giới này.

4. Chúng ta đóng góp được những gì ? Kể từ khi Đức Giáo hoàng Phaolô VI chọn ngày 1/1 làm ngày thế giới hoà bình lần đầu tiên trở đi, mỗi năm các Đức Giáo hoàng chọn cho ngày đó một chủ đề về hoà bình để mọi người suy niệm, học hỏi, thực hành, như năm 2008, Đức Bênêđictô XVI đã lấy đề tài: Bài trừ đói nghèo, xây dựng hoà bình./Đức Giáo hoàng kêu gọi phải chiến đấu chống lại sự nghèo đói. Cuộc chiến này phải được mọi người tiếp tay, phải được cả thế giới quyết tâm cao. Các nước giàu phải có bổn phận giúp đỡ nước nghèo. Người giàu có phải giúp đỡ người nghèo. Nhưng trong thực tế, người ta ích kỷ không muốn chia sẻ cho nhau. Chỉ khi con người biết yêu thương nhau, quảng đại chia sẻ giúp đỡ nhau, giảm bớt chi tiêu lãng phí để giúp đỡ kẻ khác thì mới bớt sự nghèo khó và mới có sự bình an trong cuộc sống. Thánh Têrêsa Calcutta nói: “Chỉ khi con người biết chia sẻ cho nhau, thì mới hết cảnh đói nghèo”.

5. Yêu hoà bình thì phải xây dựng công bằng, bác ái, phải kiến tạo bình đẳng, ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc. Hoà bình đòi phải phấn đấu và đấu tranh, để tiêu diệt cái xấu và phát triển cái tốt. Rất nhiều công tác cụ thể đang ở tầm tay mỗi người chúng ta. Hết thảy chúng ta hãy tích cực, để không chỉ nói hòa bình, nhưng muốn xây dựng hoà bình.

6. Trong ngày lễ Mẹ Thiên Chúa và cầu cho hòa bình thế giới hôm nay, chúng ta xin Đức Mẹ là Nữ Vương Hoà Bình ban cho chúng ta , cho các gia đình, cho cộng đoàn giáo xứ, nền hoà bình của Chúa Kitô – Hoà bình mà Đấng Cứu Thế, Con của Mẹ Maria đã đem xuống trần gian cho mọi người trong đêm Giáng sinh, để chúng ta biết sống hòa thuận thương yêu nhau, đoàn kết xây dựng hòa bình trên quê hương đất nước và trên toàn thế giới hôm nay.

Lạy Hoàng Tử Hòa Bình vừa hạ sinh, nhờ sự can thiệp của Nữ Vương Hoà Bình, xin ban cho nhân loại được hưởng niềm hoà bình viên mãn và tuôn tràn nguồn an bình đích thực xuống trong mỗi tâm hồn chúng con. Amen.

C/ TGM Giuse Nguyễn Năng

Sứ điệp: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người sinh bởi Mẹ Maria. Con của Đức Mẹ là Thiên Chúa, nên Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Cùng với Đức Mẹ, ta suy niệm, chiêm ngắm, thờ lạy và đón nhận mầu nhiệm Nhập thể.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Con Thiên Chúa nhưng Chúa chẳng nề quản làm người con bé nhỏ trong tay Mẹ Maria. Chúa được Đức mẹ sinh hạ, nuôi nấng, dạy dỗ. Chúa đã lớn lên nhờ sự giáo dục và bàn tay chăm sóc của Đức Mẹ. Con hiểu sứ mạng của Đức Mẹ thật là cao cả và nặng nề. Không những Đức Mẹ nuôi nấng Chúa về phần xác, dạy dỗ Chúa về đời sống tinh thần, chỉ bảo Chúa về cách sống ở đời, nhưng khó khăn nhất là ở chỗ Đức Mẹ phải nuôi dạy Chúa thế nào cho xứng với phẩm giá của Chúa là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Dù khó khăn vượt quá sức Mẹ, nhưng Mẹ đã suy nghĩ, cầu nguyện, và với ơn Chúa, Mẹ đã chu toàn sứ mạng cao cả ấy.

Lạy Chúa, xin cho con được hưởng nhờ tình yêu thương từ mẫu và sự chăm sóc của Mẹ Maria, để con được sống bằng an trong năm mới này, để con trưởng thành trong đời sống làm người với những đức tính tốt, và nhất là để con biết sống xứng đáng với ơn gọi làm con Thiên Chúa.

Hôm nay con nhớ tới các người mẹ. Có những bà mẹ sống ích kỷ, bỏ bê con cái. Có những bà mẹ chỉ lo cho con cái về phần xác. Xin Chúa giúp cho các người mẹ ý thức bổn phận lo cho con cái về mọi phương diện, giáo dục con cái nên người và nên con Thiên Chúa. Con cái ngày nay gây ra cho cha mẹ nhiều khó khăn trong việc giáo dục. Xin Chúa giúp các bậc phụ huynh chu toàn trọng trách này theo gương Mẹ Maria. Amen.

Ghi nhớ: “Họ đã gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi … và tám ngày sau người ta gọi tên Người là Giêsu”.

D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Khi tuyên xưng Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là Con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong biến cố Nhập Thể. Lễ kính trọng thể “Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa” có gốc tích rất lâu đời và được phổ biến trên khắp thế giới. Trong lịch canh tân Phụng Vụ, lễ kính trọng thể Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa này được cử hành vào ngày mồng 1 tháng giêng, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, ngày kính nhớ việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giê-su, nhưng cũng trùng với ngày Tân Niên, ngày đầu năm mới cầu cho hòa bình thế giới. Đức Phao-lô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy này được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rô-ma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Ma-ri-a góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quý đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (“Marialis Cultus”, 5).

Ds 6: 22-27

Đây là một trong những bản văn đẹp nhất của bộ Ngũ Thư, về phương diện văn chương và thần học. “Lời chúc lành của tư tế” nêu bật sự hiện diện thi ân giáng phúc của Thiên Chúa, nguồn mạch của sự sống và phúc lành. Lời chúc lành này gồm ba lời nguyện xin, mỗi lời bắt đầu với danh xưng Đức Chúa. Vài tác giả xưa nhìn thấy nơi việc kêu cầu ba lần Danh Thánh này tiên báo Thiên Chúa Ba Ngôi. Lời chúc lành cầu xin được che chở, ân sủng và bình an: ba hồng ân tóm tắt mọi ước vọng của con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng cách sung mãn.

Gl 4: 4-7

Trong đoạn trích thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô khẳng định với chúng ta rằng chúng ta thực sự là con cái của Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su, Ngài là Con Thiên Chúa được sinh ra làm con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

Lc 2: 16-21

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca tường thuật cho chúng ta hai biến cố: “Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su” và “Hài Nhi Giê-su chịu cắt bì và đặt tên”.

BÀI ĐỌC I (Ds 6: 22-27)

Đây là đoạn văn thuộc truyền thống tư tế. Trong phần nhập đề, Đức Chúa căn dặn ông Mô-sê: “Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này” (6: 22-23). Như vậy, các tư tế có nhiệm vụ chúc phúc cho dân Ngài. Tuy nhiên, trong phần chúc phúc, ba lời chúc phúc đều bắt đầu với danh Thiên Chúa: “Nguyện Đức Chúa”. Điều này cho thấy vị tư tế chỉ là người trung gian, chính Đức Chúa mới thật sự là Đấng hiện diện và chúc lành.

1. Lời chúc phúc thứ nhất (6: 24)

Trong lời chúc phúc thứ nhất, “Nguyện Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ anh em”, từ “gìn giữ” ở đây nói đến ơn phù trợ của Thiên Chúa khỏi mọi hiểm nguy trong cuộc sống, như:

“Xin gìn giữ con như con ngươi mắt Ngài,

xin dấu con dưới bóng của cánh tay Ngài” (Tv 17: 8)

hay:

“Xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây,

và lấy tình thương mà cứu chữa” (Tv 31: 17; 80: 4, 8, 20).

Lời chúc phúc thứ nhất này muốn nói rằng “Xin Thiên Chúa đổ tràn ơn lành trên dân và che chở cho dân tránh mọi tai họa có thể đổ xuống trên dân”. Lời chúc phúc thứ nhất này nhấn mạnh Ơn Chúa Quan Phòng.

2. Lời chúc phúc thứ hai (6: 25)

Trong lời chúc phúc thứ hai, “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em”, nghĩa là xin Thiên Chúa nhìn đến dân Ngài bằng ánh mắt chan chứa niềm vui của Ngài. Lời chúc phúc này muốn nói rằng nếu có điều gì không vừa lòng đẹp ý Ngài, thì xin Ngài “rủ lòng thương” mà khoan hồng độ lượng rộng tình tha thứ những lỗi phạm của dân Ngài. Lời chúc phúc này nhấn mạnh tấm lòng nhân hậu hay tha thứ của Thiên Chúa, như sấm ngôn của Giê-rê-mi-a:

“Trở về đi, hỡi Ít-ra-en phản bội – sấm ngôn của Đức Chúa –

Ta sẽ không nghiêm nét mặt với các ngươi nữa,

vì Ta giàu lòng thương xót – sấm ngôn của Đức Chúa” (Gr 3: 11).

3. Lời chúc phúc thứ ba (6: 26)

Lời chúc phúc thứ ba: “Nguyện Đức Chúa ghé mặt nhìn”, cầu xin Thiên Chúa đừng ngoảnh mặt làm ngơ, nhưng nhìn đến dân Ngài như “Thiên Chúa đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, nhưng Ca-in và lễ vật của ông, thì Người không đoái nhìn đến” (St 4: 5-6). Chính cái nhìn của Thiên Chúa đem lại “bình an” cho dân Ngài. Với tính thực tiễn của Cựu Ước, chúng ta không được quan niệm “bình an” trong nội tâm. Thế giới của Cựu Ước chưa biết trừu tượng hóa hay nội tâm hóa. Bình an mà Cựu Ước muốn nói đến là tình trạng hòa hợp giữa con người với trời và đất. Chỉ có bình an thực sự giữa con người với nhau trong một mối giao hòa với trời và đất, bây giờ mới có bình an trong tâm hồn, như lời ca ngợi của đoàn sứ thần trên bầu trời Bê-lem:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14).

– Kết luận (6: 27)

Trong câu kết: “Chúc lành như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng”, Danh Thiên Chúa đồng nhất với chính sự hiện diện thi ân giáng phúc của Ngài. Vào thời Cựu Ước, chính Đức Chúa, qua trung gian của các tư tế, chúc phúc cho dân Ngài. Vào thời Tân Ước, Con Một Thiên Chúa làm người, là Đức Giê-su, nghĩa là “Đức Chúa cứu độ”, chính Ngài chúc phúc cho nhân loại. Từ nay mọi ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại đều qua Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Ngài là Đấng Trung Gian duy nhất giữa nhân loại và Thiên Chúa.

BÀI ĐỌC II (Gl 4: 4-7)

Bài Đọc II được trích từ Thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Ga-lát. Thánh Phao-lô viết Thư này vào năm 54-57 cốt để biện minh cho mình vì có nhiều người đặt nghi vấn về sứ vụ Tông Đồ của thánh nhân và Tin Mừng mà thánh nhân loan báo.

Vì thế, ngay từ đầu Thư, thánh nhân xác quyết sứ vụ Tông Đồ của thánh nhân bắt nguồn từ Đấng Phục Sinh: “Tôi là Phao-lô, Tông Đồ không phải do loài người, cũng phải nhờ một người nào, nhưng bởi Đức Giê-su Ki-tô và Thiên Chúa là Cha, Đấng đã cho Người từ cõi chết sống lại” (1: 1). Từ đó, thánh Phao-lô khẳng định tính chính thống của Tin Mừng mà thánh nhân loan báo: “Thực vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người. Vì không ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô mặc khải” (1: 11-12). Thánh Phao-lô cũng viện dẫn các Tông Đồ trực tiếp của Đức Giê-su, các ngài cũng chứng nhận tính chính thống của Tin Mừng mà thánh nhân loan báo: “Vậy khi nhận ra ân huệ Thiên Chúa đã ban cho tôi, các ông Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an, những người được coi là cột trụ, đã bắt tay tôi và ông Ba-na-ba để tỏ dấu hiệp thông: chúng tôi thì lo cho các dân ngoại, còn các vị ấy thì lo cho những người được cắt bì” (2: 9).

Trong đoạn Thư được Phụng Vụ trích dẫn hôm nay, thánh nhân đề cập đến mầu nhiệm Nhập Thể và hiệu quả mà mầu nhiệm này mang lại cho nhân loại.

1. Mầu Nhiệm Nhập Thể nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa

Diễn ngữ: “Khi thời gian tới hồi viên mãn”, muốn nói rằng Thiên Chúa đã chuẩn bị dài lâu trong lịch sử dân Ngài cho biến cố Nhập Thể của Con Ngài để con người đủ khả năng đón nhận Tin Mừng Đức Giê-su loan báo và đón nhận dung mạo Thiên Chúa mà Đức Giê-su mặc khải.

2. Con Thiên Chúa làm người để con người trở nên con cái của Thiên Chúa

Để cứu độ con người, Con Thiên Chúa đã thật sự chấp nhận kiếp sống phàm nhân, được sinh ra do một người phụ nữ, sống dưới Lề Luật và thật sự trở nên anh em của nhân loại, nhờ đó chúng ta trở thành đàn em của Ngài và là con cái Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.

3. Ân ban được làm con cái của Thiên Chúa

Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta đã đón nhận Thần Khí của Chúa Ki-tô, nhờ đó chúng ta có thể thân thưa với Thiên Chúa là Cha. Vì thế, đã là con cái Thiên Chúa, chúng ta không còn là những kẻ nô lệ, nhưng là những con người tự do và có quyền thừa kế.

TIN MỪNG (Lc 2: 16-21)

Đoạn Tin Mừng hôm nay, được trích từ “Tin Mừng về Thời Thơ Ấu của Chúa Giê-su” theo thánh Lu-ca, gồm có hai hoạt cảnh: “Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi” (2: 16-20) và “Hài Nhi Giê-su chịu cắt bì và đặt tên” (2: 21)

1. Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi (2: 16-20)

Ngay khi được thiên sứ báo tin vui: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Ngài là Đấng Ki-tô Đức Chúa” và ban cho họ một dấu chỉ để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 10-12), các mục đồng cùng nhau lên đường ngay tức khắc. Thánh Lu-ca nêu bật thái độ tích cực của các mục đồng: Thiên Chúa đã cho một dấu chỉ, phải đi kiểm chứng tức khắc và cố tìm hiểu ý nghĩa dấu chỉ của Người. Thái độ của các mục đồng nói lên biết bao bài học. Vì thế, thánh ký đã tô điểm câu chuyện này với nhiều chi tiết long trọng: phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20), phản ứng của những người nghe họ kể lại (2: 18) và cuối cùng là phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19).

A- Phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20)

Ngay khi được sứ thần báo tin, các mục đồng hối hả ra đi vì họ quá đỗi vui mừng và nôn nóng mong gặp được Đấng Cứu Độ. Trước đây, thánh Lu-ca đã nhận xét rằng ngay sau biến cố Truyền Tin, Đức Mẹ cũng đã “vội vã ra đi” viếng thăm bà Ê-li-sa-bét (Lc 1: 39). Một tâm hồn đã cho Thiên Chúa bước vào cuộc đời mình thì hân hoan vui mừng vì Thiên Chúa đã viếng thăm mình và cuộc sống của mình đã được dung nạp một nguồn năng lực mới, như lời giải thích của thánh Giáo Phụ Am-rô-si-ô: “Không ai tìm kiếm Đức Ki-tô chỉ một nửa tấm lòng” (Expositio Evangelii sec. Lucam., in loc.).

Trong “Tin Mừng về Thơ Ấu của Chúa Giê-su”, thánh Lu-ca mô tả khung cảnh máng cỏ đến ba lần: lần thứ nhất, Đức Ma-ri-a “sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” (2: 7), lần thứ hai qua dấu chỉ mà sứ thần ban cho các mục đồng để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, (1: 10-12) và lần thứ ba, khi đến nơi, các mục đồng “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Những gì các mục đồng chứng kiến trong máng cỏ tương phản với phản ứng của họ vào lúc kết thúc hoạt cảnh này: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa” (1: 20).

Tương phản này tiên báo một tương phản khác: bên máng cỏ này được bao quanh bởi ánh sáng và lời hoan ca, ẩn hiện một bóng tối, bóng tối của Đồi Sọ; vì Ngôi Lời hóa thân làm người không phải là để một ngày kia bị tra tấn, bị nhục mạ, bị đóng đinh vào thập giá đó sao? Tuy nhiên, trong mạch văn, Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ, tự đặt mình vào số những người nghèo, khiêm hạ và bé nhỏ này: dấu chỉ để nhận ra Ngài đó là “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Chiếc tã đầu đời để ủ ấm Ngài là chiếc khăn trùm đầu một nắng hai sương của Mẹ Ngài và chiếc nôi đầu đời để vỗ về giấc ngủ của Ngài là máng cỏ của bò lừa ăn, đó là dấu chỉ giúp cho những mục đồng nghèo khổ và bị khinh bỉ này nhận ra được Đấng Cứu Thế đã đến: con trẻ sơ sinh này sẽ là Đấng sau này đón tiếp những người nghèo hèn, những kẻ bị khia trừ, kẻ tội lỗi và đồng bàn với họ (15: 2). Thiên Chúa đã ưu ái những người phận hèn bé mọn (x. Cn 3: 32).

Sau khi đã kiểm chứng, các mục đồng “liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này” (2: 17). Họ là những chứng nhân đầu tiên về cuộc Giáng Sinh của Đấng Cứu Độ. “Các mục đồng không hài lòng tin vào biến cố hạnh phúc mà thiên sứ công bố cho họ và đầy kinh ngạc, họ đã chứng kiến tận mắt; họ đã bày tỏ niềm vui của mình không chỉ với Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se nhưng cho mọi người và, còn hơn nữa, họ cố gắng ghi khắc biến cố này trong tâm khảm của họ” (Photius, Ad Amphilochium, 155).

Ở nơi dáng dấp của các mục đồng, thánh Lu-ca phác họa chân dung của những người Ki-tô hữu: “Họ liền hối hả ra đi” và “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (1: 20).

B- Phản ứng của những người nghe các mục động kể lại (2: 18)

Đấng Mê-si-a, được các ngôn sứ loan báo biết bao lần, được dân Ít-ra-en chờ đợi từ lâu lắm rồi, đã đi vào trong lịch sử con người một cách bất ngờ nhất và kín đáo nhất, vì thế, “nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên”. “Tại sao không kinh ngạc cho được, khi thấy trên cõi thế Đấng ở trên cõi trời, và đất và trời được hòa giải; khi thấy Hài Nhi khôn tả liên kết điều gì là trời – thần tính – và điều gì là đất – nhân tính – sáng tạo một giao ước kỳ diệu qua sự hiệp nhất này. Không chỉ họ kinh khiếp trước mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng cũng trước lời chứng vĩ đại mà các mục đồng làm chứng, những người đã không thể bịa ra điều gì họ đã không nghe và công bố một cách hùng hồn sự thật” (Photius, Ad Amphilochium, 155).

Để nhận ra Ngài trong mầu nhiệm tự hạ này, phải có một tâm hồn nghèo khó, lột bỏ hết mọi định kiến. Thánh Lu-ca là thánh ký về đức nghèo khó. Những mục đồng là những kẻ bị khinh bỉ và liệt ra ngoài lề xã hội, những kẻ mà các kinh sư nghi ngờ về đời sống đạo hạnh của họ, vì nghề nghiệp của họ không cho phép họ tuân giữ ngày sa-bát và tham dự thường xuyên kinh nguyện trong các hội đường. Chính ở nơi những tín đồ không ngoan đạo này mà lời loan báo đầu tiên về Triều Đại Mê-si-a được gửi đến. Chúng ta nhận ra cách thức của Thiên Chúa. Đức Giê-su sẽ hớn hở vui mừng và ngợi khen Cha Ngài “vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10: 21).

C- Phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19)

Đây là một trong những ghi nhận quý giá về đức hạnh của Đức Ma-ri-a: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (2: 19). Qua lời ghi nhận này, thánh Lu-ca vén mở cho chúng ta một trong những nguồn của sách Tin Mừng mang tên thánh ký. Thánh Lu-ca đã tô điểm chuyện tích Giáng Sinh với nhiều chi tiết thần linh, nhưng khởi đi từ những sự kiện mà thánh sử đã gìn giữ từ chính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”, để cố hiểu hơn nữa mầu nhiệm của Con Mẹ.

Lời ghi nhận này, được lặp lại đến hai lần: ở đây và ở 2: 51, nói với chúng ta nhiều điều về Đức Mẹ. Với thái độ cung kính, Mẹ chiếm ngắm những điều kỳ diệu được hiện thực ở nơi cuộc Giáng Trần của Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ. Mẹ đã gẫm suy chúng, chiêm ngắm chúng và cất giữ chúng vào trong cõi thinh lặng của tấm lòng Mẹ. Mẹ là Bậc Thầy đích thật của cầu nguyện: “Đức Ma-ri-a sử dụng cả ba năng lực quan trọng của con người. Đức Ma-ri-a ghi nhớ tất cả những gì đã nghe, đó là ký ức. Đức Ma-ri-a suy nghĩ về các điều đó, tức là dùng lý trí. Đức Ma-ri-a suy nghĩ trong lòng, tức là dùng tình cảm, vì xúc động. Ký ức, lý trí, tình cảm đều được dùng để ứng xử với những gì đã nghe” (“Nước Suối Giữa Sa Mạc”, 84).

Nếu chúng ta noi gương Mẹ, nếu chúng ta gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng mình điều gì mà Đức Giê-su nói với chúng ta và điều gì Ngài làm trong chúng ta, chúng ta thật sự bước trên đường thánh thiện Ki-tô giáo và chúng ta sẽ không bao giờ thiếu đạo lý của Ngài và ân sủng của Ngài. Cũng vậy, bằng việc chiêm niệm theo cách thức này giáo huấn Đức Giê-su đã cho chúng ta, chúng ta sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Ngài như Giáo Huấn của Công Đồng Va-ti-can II: “Thánh Truyền do các Tông Đồ truyền lại được tiến triển trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn, nhờ sự chiêm ngắm và học hỏi của các tín hữu, những người đã ghi nhận các điều đó trong lòng (x. Lc 2: 19 và 51); nhờ sự thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được, hoặc nhờ những việc giảng dạy của những người lãnh nhận một đoàn sủng chắc chắn về chân lý, do việc kế vị trong chức Giám Mục. Nói cách khác, qua bao thế kỷ Giáo Hội luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý Thiên Chúa, cho đến khi lời Chúa được hoàn tất nơi chính Giáo Hội” (Vatican II, Dei Verbum, 8).

Vì thế, Công Đồng Va-ti-can II đã ca ngợi Đức Ma-ri-a vừa là Mẹ Thiên Chúa vì Chúa Giê-su là Con của Mẹ, vừa là Mẹ của Nhiệm Thể Ngài, tức là Giáo Hội: “Thật vậy, khi sứ thần truyền tin, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và trong thân xác, và đã trao ban Đấng là sự sống ấy cho thế gian, nên được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu Thế… Nhưng vì thuộc dòng dõi A-đam, nên Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu độ, hơn nữa, Mẹ ‘là Mẹ các chi thể (của Đức Ki-tô) vì đã cộng tác vào trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội là những chi thể của Đầu’. Vì thế, Mẹ cũng được chào kính như chi thể trổi vượt và độc đáo nhất của Giáo Hội, như mẫu gương và gương sáng nổi bật cho Giáo Hội về đức tin và đức ái, và Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, tôn kính Mẹ với tình con thảo như người Mẹ rất dấu yêu” (LG 53).

2. Chúa Giê-su chịu cắt bì và đặt tên (2: 21)

Phép cắt bì là một nghi thức được Thiên Chúa thiết lập để xác định những ai thuộc về dân Chúa chọn. Ngài đã truyền lệnh cho ông Áp-ra-ham thiết định phép cắt bì như một dấu chỉ Giao Ước mà Ngài đã ký kết với ông và tất cả dòng dõi của ông (x. St 17: 10-14), khi quy định rằng con trẻ sẽ chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám sau khi sinh. Nghi thức được thực hiện ở tại tư gia hay ở hội đường, kèm theo những kinh nguyện và việc đặt tên cho con trẻ. Vì đã chấp nhận kiếp sống của con người, Chúa Giê-su cũng sống dưới Lề Luật: “Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì” (2: 21). Với định chế Phép Rửa Ki-tô giáo, lệnh truyền cắt bì không còn được áp dụng nữa. Ở Công Đồng Giê-ru-sa-lem (x. Cv 15: 1tt.), các Tông Đồ dứt khoát công bố rằng những ai gia nhập Giáo Hội không cần phải chịu phép cắt bì. Thánh Phao-lô dạy cách minh nhiên rằng phép cắt bì không còn thích đáng trong bối cảnh của Giao Ước Mới được Đức Ki-tô thiết lập (Gl 5: 2tt.; 6: 12tt.; Cl 2: 11tt.).

Tên của Hài Nhi Giê-su có nghĩa “Đức Chúa cứu độ” hay “Đức Chúa là ơn cứu độ”, tức là, “Đấng Cứu Độ”. Tên này được ban cho Hài Nhi không như thành quả của bất cứ quyết định phàm nhân nào nhưng tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa mà sứ thần đã truyền đạt cho Đức Trinh Nữ và thánh Giu-se (x. Lc 1: 31; Mt 1: 21).

Bài Viết Cùng Chuyên Mục

Ngày 26/1: Chúa nhật 3 Thường niên – năm C

Ngày 26/1: Chúa nhật 3 Thường niên – năm C

Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh

Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh

Thứ Năm sau Lễ Hiển Linh

Thứ Năm sau Lễ Hiển Linh

Thứ Tư sau Lễ Hiển Linh

Thứ Tư sau Lễ Hiển Linh

Thứ Năm Trước Lễ Hiển Linh

Thứ Năm Trước Lễ Hiển Linh

Chúa Nhật, 29 tháng 12: Ngày thứ 5 trong tuần Bát nhật Giáng sinh – Lễ Thánh Gia Thất

Chúa Nhật, 29 tháng 12: Ngày thứ 5 trong tuần Bát nhật Giáng sinh – Lễ Thánh Gia Thất

Bài Viết Mới

Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Kitô Vua – Miền Đà Lạt Mừng Bổn Mạng: Thánh Giacôbê Macca

Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Kitô Vua – Miền Đà Lạt Mừng Bổn Mạng: Thánh Giacôbê Macca

Hiệp Thông: Bà Cố CATARINA BÙI THỊ HỘI

Hiệp Thông: Ông Cố GIUSE TRẦN TỊNH MẠC

Đại Hội Giới Trẻ Giáo Phận Đà Lạt – Lần Thứ VII

Đại Hội Giới Trẻ Giáo Phận Đà Lạt – Lần Thứ VII

Giáo Xứ Păng Tiêng (Đà Lạt) Mừng Bổn Mạng: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Giáo Xứ Păng Tiêng (Đà Lạt) Mừng Bổn Mạng: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Đại hội Giới trẻ Giáo Phận Đà Lạt lần thứ VII | 13:00, thứ Năm – 27/11/2025 | GX LaVang Bảo Lộc.

Đại hội Giới trẻ Giáo Phận Đà Lạt lần thứ VII | 13:00, thứ Năm – 27/11/2025 | GX LaVang Bảo Lộc.

Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Năm Tuần XXXIV Thường Niên.

Suy Niệm Lời Chúa – Thứ Năm Tuần XXXIV Thường Niên.

Tin Tức Giáo Phận

Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Kitô Vua – Miền Đà Lạt Mừng Bổn Mạng: Thánh Giacôbê Macca

Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh Kitô Vua – Miền Đà Lạt Mừng Bổn Mạng: Thánh Giacôbê Macca

Đại Hội Giới Trẻ Giáo Phận Đà Lạt – Lần Thứ VII

Đại Hội Giới Trẻ Giáo Phận Đà Lạt – Lần Thứ VII

Giáo Xứ Păng Tiêng (Đà Lạt) Mừng Bổn Mạng: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Giáo Xứ Păng Tiêng (Đà Lạt) Mừng Bổn Mạng: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Giáo Xứ Đa Lộc (Đà Lạt) Kỷ Niệm 25 Năm Cung Hiến Nhà Thờ Và Làm Phép Chuông Mới

Giáo Xứ Đa Lộc (Đà Lạt) Kỷ Niệm 25 Năm Cung Hiến Nhà Thờ Và Làm Phép Chuông Mới

Thánh Lễ Kỷ Niệm 25 Năm Cung Hiến Thánh Đường Giáo Xứ Tân Bùi

Thánh Lễ Kỷ Niệm 25 Năm Cung Hiến Thánh Đường Giáo Xứ Tân Bùi

Đức Giám Mục Giáo Phận Cử Hành Thánh Lễ Mừng Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Kỷ Niệm 65 Năm Thiết Lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam

Đức Giám Mục Giáo Phận Cử Hành Thánh Lễ Mừng Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và Kỷ Niệm 65 Năm Thiết Lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam

Giáo Phận Đà Lạt

Thông Tin Liên Hệ
VĂN PHÒNG TRUYỀN THÔNG GIÁO PHẬN ĐÀ LẠT
– Địa chỉ: 9, Trần Quốc Toản, P. Xuân Hương – Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam
                [Địa chỉ cũ: 09 Nguyễn Thái Học, Tp. Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam]
– Điện thoại: 02633.822.415
– Email: giaophandalat1960@gmail.com

  • Trang Chủ
  • Giới Thiệu
    • Tổng Quan Giáo Phận
      • Lịch Sử Giáo Phận
      • Niên Giám Giáo Phận
      • Bản Đồ Giáo Phận
      • Truyền Giáo – Bác Ái Xã Hội
    • Giám Mục Giáo Phận
      • Tiểu Sử Đức Giám Mục Đương Nhiệm
      • Bài Giảng Đức Giám Mục
      • Các Đức Giám Mục Tiền Nhiệm
    • Giáo Hạt và Giáo Xứ
      • Giáo Hạt Đà Lạt
      • Giáo Hạt Bảo Lộc
      • Giáo Hạt Đức Trọng
      • Giáo Hạt Đơn Dương
      • Giáo Hạt Đạ Tông
      • Giáo Hạt Di Linh
      • Giáo Hạt Madaguôi
    • Danh Sách Linh Mục
    • Đại Chủng Viện Và Dòng Tu
      • Đại Chủng Viện Minh Hoà
      • Tu Đoàn Tông Đồ ICM
      • Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt
      • Dòng Chứng Nhân Đức Tin
      • Đan Viện Cát Minh Têrêsa Đà Lạt
      • Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Châu Sơn
      • Các Dòng Tu Khác
    • Giáo Hạt và Giáo Xứ
      • Giáo Hạt Đà Lạt
      • Giáo Hạt Bảo Lộc
      • Giáo Hạt Di Linh
      • Giáo Hạt Đạ Tông
      • Giáo Hạt Đơn Dương
      • Giáo Hạt Đức Trọng
      • Giáo Hạt Madaguôi
    • Giờ Lễ
  • Phụng Vụ
    • Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
    • Chư Thánh
    • Lời Nguyện Tín Hữu
    • Nghi Thức Và Kinh Nguyện
  • Mục Vụ
    • Thiếu Nhi
    • Giới Trẻ
    • Hôn Nhân – Gia Đình
    • Truyền Giáo
    • Caritas
    • Di Dân
    • Truyền Thông
    • Thánh Nhạc
    • Tham Khảo Mục Vụ
  • Tin Tức
    • Thông Báo
    • Tin Tức Giáo Phận
    • Tin Tức Giáo Hội Việt Nam
    • Tin Tức Giáo Hội Hoàn Vũ
    • Cáo Phó Và Hiệp Thông
  • Tài Liệu
    • Văn Kiện Toà Thánh
    • Văn Kiện Hội Đồng Giám Mục
    • Văn Kiện Giáo Phận
    • Kinh Thánh
    • Giáo Lý
      • Giáo Lý Dự Tòng
      • Giáo Lý Phổ Thông
      • Giáo Lý Hôn Nhân
      • Tài Liệu Khác
    • Tu Đức – Nhân Bản
    • Triết Học
      • Đông Phương
      • Tây Phương
    • Thần Học
      • Phụng Vụ – Bí Tích
      • Tín Lý
      • Luân Lý
      • Học Thuyết Xã Hội
      • Suy Tư Thần Học
    • Giáo Luật
    • Lịch Sử Giáo Hội
    • Tham Khảo
  • Media
    • Thánh Lễ
    • Bài Giảng
    • Suy Niệm Lời Chúa
    • Giới Thiệu Giáo Xứ

© Giáo Phận Đà Lạt - Ban Truyền Thông

  • Trang Chủ
  • Thông Báo
  • Tin Tức Giáo Phận
  • Báo Lỗi