Thiên 1. Tố tụng hộ sự thông thường (Điều 1501 – 1655)
Đề mục 1. Khởi tố vụ án (Điều 1501 – 1512)
Chương 1. Đơn khởi tố (Điều 1501 – 1506)
Điều 1501
Thẩm phán không được xét xử bất cứ vụ án nào, nếu không có đơn thỉnh nguyện do người có lợi ích hay do công tố viên, chiếu theo quy tắc của các điều luật.
Điều 1502
Ai muốn khởi tố một người nào phải đệ đơn lên thẩm phán có thẩm quyền, trong đơn phải trình bày đối tượng của sự tranh tụng và phải xin thẩm phán xét xử.
Điều 1503
§1. Thẩm phán có thể nhận lời thỉnh cầu miệng mỗi khi nguyên cáo bị ngăn trở không đệ đơn được, hay khi vụ án dễ cứu xét và không mấy quan trọng.
§2. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp này, thẩm phán phải truyền cho công chứng viên soạn thảo án từ trên giấy tờ, để đọc cho nguyên cáo nghe và để nguyên cáo chấp thuận, và án từ này thay thế đơn khởi tố của nguyên cáo xét về mọi hiệu lực pháp lý.
Điều 1504
Đơn khởi tố phải:
1° bày tỏ cho biết vụ án được khởi tố trước thẩm phán nào, yêu cầu điều gì và với ai;
2° chỉ rõ nguyên cáo căn cứ vào luật nào, vào những sự kiện nào và vào những chứng cớ nào, ít là cách sơ lược, để xác minh những điều mình viện dẫn;
3° được nguyên cáo hay người đại diện ký, phải đề ngày, tháng và năm, cũng như địa chỉ của nguyên cáo và của người đại diện cư ngụ, hoặc những địa chỉ do họ chọn để nhận những án từ;
4° ghi rõ cư sở hay bán cư sở của bị cáo.
Điều 1505
§1. Sau khi đã xác nhận vụ kiện thuộc thẩm quyền của mình và nguyên cáo có đủ tư cách hợp pháp để ra tòa, thẩm phán duy nhất hay vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn sớm nhất.
§2. Đơn chỉ có thể bị bác:
1° nếu thẩm phán hay tòa án không có thẩm quyền;\ 2° nếu chắc chắn rằng nguyên cáo không có tư cách hợp pháp để khởi tố;
3° nếu không tôn trọng những quy định của điều 1504, 1° – 3°
4° nếu chắc chắn rằng, qua đơn khởi tố, sự thỉnh cầu thiếu mọi nền tảng và nếu chắc chắn rằng không thể tìm thấy một nền tảng nào qua tiến trình tố tụng.
§3. Nếu đơn đã bị bác vì những hà tỳ có thể sửa chữa được, nguyên cáo có thể soạn thảo đúng cách một đơn khởi tố mới để trình lại cho cùng vị thẩm phán đó.
§4. Trong trường hợp đơn bị bác, trong thời hạn mười ngày, nguyên cáo luôn luôn có trọn quyền đệ đơn kháng cáo có viện dẫn lý do lên tòa kháng cáo hoặc lên thẩm phán đoàn, nếu đơn đã bị vị chánh án hiệp đoàn bác bỏ; vấn đề bác đơn này phải được giải quyết nhanh hết sức có thể.
Điều 1506
Nếu quá hạn định một tháng tính từ lúc nộp đơn, mà thẩm phán vẫn không ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn chiếu theo quy tắc của điều 1505, bên liên hệ có thể yêu cầu thẩm phán thi hành nhiệm vụ của mình; nếu quá mười ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà thẩm phán vẫn không trả lời, thì coi như đơn đã được chấp nhận.
Chương 2. Triệu tập và thông báo các án từ (Điều 1507 – 1512)
Điều 1507
§1. Trong sắc lệnh chấp nhận đơn của nguyên cáo, thẩm phán hay vị chánh án phải mời hay triệu tập các đương sự khác ra tòa để xác định đối tượng tranh tụng, bằng việc quyết định cho các đương sự này phải trả lời bằng giấy tờ hay phải trình diện trước mặt mình để thỏa thuận với nhau về những nghi vấn. Nếu những câu trả lời bằng giấy tờ cho thấy sự cần thiết phải triệu tập các bên, thẩm phán hay vị chánh án có thể ấn định điều đó bằng một sắc lệnh mới.
§2. Nếu đơn được xem là được chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1506, sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được ban hành trong vòng hai mươi ngày kể từ ngày yêu cầu, như nói ở điều ấy.
§3. Nếu trong thực tế các bên đối tụng tự động đến trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án thì không cần phải triệu tập nữa, nhưng một công chứng viên phải ghi chú trong các án từ là các bên đã có mặt tại tòa.
Điều 1508
§1. Sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được thông báo ngay cho bị cáo và đồng thời cũng phải được thông báo cho những người nào phải ra trình diện.
§2. Đơn khởi tố phải đính kèm với lệnh triệu tập, trừ khi vì những lý do quan trọng, thẩm phán nhận thấy không cần cho bị cáo biết đơn đó, trước khi người này cung khai tại tòa.
§3. Nếu vụ kiện nhằm chống lại người không được tự do sử dụng các quyền của mình hay không được tự do quản trị những tài sản đang bị tranh chấp, thì lệnh triệu tập phải được thông báo, tùy trường hợp, cho người giám hộ, cho người quản tài, cho người đại diện đặc biệt hay cho người nào phải bảo vệ vụ án nhân danh bị cáo chiếu theo luật.
Điều 1509
§1. Việc thông báo các giấy triệu tập, các sắc lệnh, các phán quyết và các án từ tư pháp khác phải được thực hiện qua bưu điện hay bằng cách nào khác chắc chắn nhất, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của luật địa phương.
§2. Sự kiện và cách thức thông báo phải được ghi chú trong các án từ.
Điều 1510
Bị cáo nào từ chối không nhận giấy triệu tập hay ngăn cản không cho giấy triệu tập đến tay mình, thì được coi như đã được triệu tập cách hợp lệ.
Điều 1511
Nếu lệnh triệu tập không được thông báo cách hợp pháp, các án từ của vụ kiện đều vô hiệu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1507 §3.
Điều 1512
Khi lệnh triệu tập đã được thông báo cách hợp pháp, hoặc các bên đã ra trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án:
1° sự việc không còn ở nguyên trạng nữa;
2° vụ án thuộc riêng về thẩm phán hoặc về tòa án có thẩm quyền là nơi đơn khởi tố đã được nộp;
3° quyền tài phán của thẩm phán thụ ủy được củng cố đến nỗi quyền này không chấm dứt, ngay cả khi người chủ ủy hết quyền;
4° thời hiệu bị gián đoạn, trừ khi luật đã dự liệu cách khác;
5° cuộc tranh tụng bắt đầu; vì vậy phải lập tức áp dụng nguyên tắc: “bao lâu cuộc tranh tụng chưa ngã ngũ thì không được thay đổi gì hết”.