
“Nước trời cũng giống như người buôn nọ đi tìm ngọc quý”. (Mt 13,45)
Bài Ðọc I: 1 V 3, 5. 7-12
“Xin ban cho tôi tớ Chúa tâm hồn khôn ngoan”.
Trích sách Các Vua quyển thứ nhất.
Trong những ngày ấy, tại Gabaon, ban đêm, Chúa hiện ra cùng Salomon trong giấc mộng và phán rằng: “Ngươi muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi”. Salomon thưa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa khiến tôi tớ Chúa cai trị kế vị Ðavít thân phụ con. Nhưng con chỉ là một trẻ nhỏ, không biết đường đi nước bước. Tôi tớ Chúa đang sống giữa dân Chúa chọn, một dân đông đảo không thể đếm và ước lượng được. Vậy xin Chúa ban cho tôi tớ Chúa tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ, vì ai có thể xét xử dân này, một dân của Chúa đông đảo thế này?”
Ðiều Salomon kêu xin như trên đã đẹp lòng Chúa, nên Chúa phán cùng Salomon rằng: “Vì ngươi đã xin điều đó, mà không xin sống lâu, được giàu có, của cải, mạng sống quân thù, lại xin cho được khôn ngoan để biết xét đoán, thì đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin, và ban cho ngươi tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi”.
Ðáp Ca: Tv 118, 57 và 72. 76-77. 127-128. 129-130
Ðáp: Lạy Chúa, con yêu chuộng luật pháp của Chúa biết bao!
Xướng: Lạy Chúa, con xưng thực kỷ phần của con là tuân giữ những lời ban dạy của Ngài. Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.
Xướng: Xin Chúa tỏ lòng thương hầu uỷ lạo con, theo như lời đã hứa cùng tôi tớ Chúa. Nguyện Chúa xót thương cho con được sống, vì luật pháp Ngài là sự sung sướng của con.
Xướng: Bởi thế nên con yêu quý chỉ thị Ngài hơn vàng, và hơn cả vàng ròng tinh khiết. Bởi thế nên con tự chọn tất cả huấn lệnh của Ngài; hết thảy đường lối gian tà con đều ghét bỏ.
Xướng: Kỳ diệu thay những lời Ngài nghiêm huấn, bởi thế linh hồn con vẫn tuân theo. Sự mạc khải lời Ngài soi sáng và dạy bảo những người chưa kinh nghiệm.
Bài Ðọc II: Rm 8, 28-30
“Người đã tiền định cho chúng ta trở nên giống hình ảnh Con Người”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, chúng ta biết rằng những kẻ yêu mến Thiên Chúa thì Người giúp họ được sự lành, họ là những người theo dự định của Chúa, được kêu gọi nên thánh. Vì chưng, những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc. Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính?, thì Người cũng cho họ được vinh quang.
Alleluia: 1 Pr 1, 25
Alleluia, alleluia! – Lời Chúa tồn tại muôn đời, đó là lời Tin Mừng đã rao giảng cho anh em. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 13, 44-46 {hoặc 44-52}
“Anh bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng đó”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: “Nước trời giống như kho tàng chôn giấu trong ruộng, người kia tìm được, vội chôn vùi xuống, vui mừng trở về bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng ấy. Nước trời cũng giống như người buôn nọ đi tìm ngọc quý. Tìm được một viên ngọc quý, anh về bán mọi của cải mà mua viên ngọc ấy.
{“Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá. Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài. Trong ngày tận thế cũng vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng. Các ngươi có hiểu những điều đó không?” Họ thưa rằng: “Có”.
Người liền bảo họ: “Bởi thế, những thầy thông giáo am tường về Nước trời cũng giống như chủ nhà kia, hay lợi dụng những cái mới, cũ trong kho mình”.}
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
NƯỚC TRỜI LÀ CÓ THẬT
Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy. (Mt 13,45-46)
Suy niệm: Trong đám tang những người ngoài Kitô giáo thường thấy có những bức liễn đề chữ “Vãng Sanh Cực Lạc”, ý nói cái chết là đi qua khỏi cuộc sống này về chốn hoàn toàn vui sướng hạnh phúc đời sau. Thế nhưng niềm tin ấy, đúng hơn, niềm ước mong đó, căn bản là mơ hồ, không xác định cõi cực lạc ấy như thế nào. Thế nên người ta vẫn sợ hãi cái chết và cố sức níu kéo để ở lại cõi trần này. Chúa Giêsu cho biết Nước Trời, chốn hạnh phúc mà con người hằng mơ ước đó, là điều có thật nhưng còn ẩn giấu, như viên ngọc quý, như “kho báu chôn giấu trong ruộng”. Nước Trời là có thật rất quý giá, nhưng phải nỗ lực tìm kiếm mới gặp được, hơn nữa, phải sẵn sàng hy sinh, đánh đổi mọi sự mình có mới có thể đạt tới được.
Mời Bạn: Nước Trời quý giá nhưng như viên ngọc quý ẩn khuất trong viên đá sù sì xấu xí, hay như kho tàng vô giá được chôn giấu trong đám ruộng tầm thường. Nước Trời đó thực ra không ở đâu xa, ngay trong gia đình với vợ chồng, con cái, nơi bạn làm việc học hành hằng ngày. Đó chính là kho báu bạn phải nỗ lực tìm kiếm và trân trọng giữ gìn.
Sống Lời Chúa: “Bán đi tất cả để mua viên ngọc Nước Trời” đó là bạn từ bỏ những ham muốn ích kỷ, lợi ích cá nhân, những ý riêng của bạn để hết lòng phục vụ anh chị em mình.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đến để nói cho chúng con biết về Nước Trời, Nước Trời là có thật, có sự thưởng phạt đời sau. Xin giúp con nỗ lực sống thánh thiện để được thuộc về Nước Trời. Amen.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Sứ điệp: Ðoạn Tin Mừng cho thấy, Nước trời như báu vật cao quý hơn tất cả mọi sự trần gian đồng thời nhấn mạnh đến niềm vui sướng của người tìm thấy được báu vật ấy. Chính vì thế, con người phải sẵn sàng chấp nhận hy sinh tất cả để chiếm đoạt Nước Trời.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, Nước Trời chỉ dành cho những ai thành tâm tìm kiếm mà thôi. Xin cho chúng con biết từ bỏ những danh vọng vật chất để chỉ lo tìm kiếm hạnh phúc đích thực. Ước gì mỗi người chúng con luôn khao khát như Thánh Âu-tinh “Hồn con những mòn mỏi tìm kiếm, cho tới khi được nghỉ an trong Chúa”. Amen.
Ghi nhớ: “Anh bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng đó”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
CHỌN LỰA ƯU TIÊN
Kho báu trong ruộng, viên ngọc quý và chiếc lưới bắt cá, những hình ảnh rất bình dị và gần gũi với đời thường của xứ sở Palestina được Chúa Giêsu sử dụng để truyền đạt giáo huấn của Người về Nước Trời.
Người nông dân hiểu rõ giá trị của kho báu khi ông phát hiện được chôn trong ruộng; người lái buôn kinh nghiệm trong nghề nên đánh giá đúng giá trị của viên ngọc. Họ đã tìm thấy những vật có giá trị cao và quyết định đánh đổi bằng cả gia sản của mình. Có người trách họ sao dại thế, vì mua kho báu và viên ngọc mà mất mọi sự thì lấy đâu nhà mà ở, đồ đạc đâu mà sử dụng. Tuy vậy, họ là những người khôn ngoan biết nhìn xa trông rộng. Bởi họ chắc chắn rằng, một khi đã tậu được thửa ruộng có kho báu hoặc viên ngọc quý thì họ sẽ có tất cả. Và một khi đã sở hữu kho báu và viên ngọc quý giá kia thì sẽ được lợi gấp trăm gấp ngàn lần số vốn mà họ đã bỏ ra. Như thế, họ không phải là những người nông nổi dại dột, mà trái lại, họ là những người khôn ngoan chín chắn, hiểu biết chọn lựa và quyết định của mình. Họ đã tận dụng cơ hội, nhanh tay sở hữu những tài sản mà họ biết rõ giá trị của chúng.
Nước Trời giống như… Chúa Giêsu thường dùng công thức này để nói về Nước Trời. Không có hình ảnh nào diễn tả chính xác Nước Trời. Nếu có sử dụng những hình ảnh đời thường thì đó chỉ là sự so sánh để người nghe dễ hiểu và để đón nhận giáo huấn mà Chúa muốn thông truyền. Chúa dạy chúng ta, Nước Trời phải là một chọn lựa ưu tiên cho những ai muốn nên trọn lành. Cũng như người quyết định mua thửa ruộng có chôn giấu kho báu và viên ngọc quý có giá trị cao, người đón nhận Nước Trời cũng phải chấp nhận hy sinh, có khi phải đánh đổi bằng cả mạng sống mình. Nhưng sự hy sinh ấy không phải là vô nghĩa, vì một khi họ đã được sở hữu Nước Trời làm gia nghiệp thì họ sẽ có tất cả. Họ sẽ có Chúa là Cha, có mọi người là anh chị em. Họ sẽ tìm được sự than thản trong tâm hồn cùng với niềm vui và hạnh phúc ở đời này và đời sau. Chúa Giê-su đã khẳng định: “Tiên vàn hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự bình an của Người. Còn những điều khác Người sẽ ban sau”. Lịch sử Giáo Hội nói với chúng ta đã có biết bao người nam cũng như nữ, giàu cũng như nghèo, chấp nhận chọn lựa Chúa bằng sự từ bỏ hy sinh và họ đã chứng minh rằng đó là một chọn lựa đúng.
Nội dung Bài Tin Mừng được diễn tả rõ nét hơn khi nối kết với Bài đọc I của Chúa nhật này: Salômôn là một ông vua còn trẻ tuổi khi nối nghiệp vua Đavít là cha mình. Trong ngày phong vương, Chúa đã cho ông một ân huệ, đó là ông xin gì thì Chúa sẽ ban. Salômôn không xin bạc vàng. Ông cũng chẳng xin mạng sống quân thù. Ông chỉ xin với Chúa sự khôn ngoan để có thể lãnh đạo Dân riêng của Chúa là dân Israen. Nội dung lời cầu nguyện của ông đã chứng minh ông là một người khôn ngoan rồi! Chúa đã chấp nhận lời xin của ông và lịch sử đã chứng minh ông là là người khôn ngoan nổi tiếng, làm cho các vua, hoàng hậu và các nước láng giềng phải thán phục. Một khi ông được ơn khôn ngoan, Salômôn cũng được bạc vàng, mạng sống quân thù, sự giàu có và phồn thịnh cho quốc gia. Nhờ sự khôn ngoan của vua Salômôn mà vương quốc được bình an và phát triển. Ông đã trở thành biểu tượng của sự khôn ngoan trong lịch sử. Salômôn đã biết xin điều cần thiết cho bản thân và dân tộc mình. Như người lái buôn và người nông dân biết rõ giá trị của thửa ruộng và của viên ngọc quý, ông hiểu rõ sự khôn ngoan quan trọng thế nào đối với bậc mẫu nghi thiên hạ.
Trong cuộc sống của chúng ta, vẫn luôn có những người khôn sống chung với người dại (xem lại Lời Chúa Chúa nhật trước với dụ ngôn cây lúa và cỏ lùng). Trong cuộc sống vẫn có những người lại khôn ngoan theo kiểu thế gian, tức là sự mánh lới lọc lừa. Có nhiều người “khôn lỏi” chỉ nhằm tới lợi lộc ích kỷ mà làm tổn hại tới tha nhân. Lấy gì làm tiêu chuẩn cho sự khôn ngoan giả và sự khôn ngoan thật? Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn của Người bằng hình ảnh chiếc lưới thả xuống biển để bắt cá. Người muốn nói với họ: các bạn đừng lo và đừng nản chí trước tình trạng có nhiều người kiêu ngạo và gian ác mà vẫn nhởn nhơ. Người tốt và người xấu sẽ có lúc được phân biệt. Lịch sử này sẽ kết thúc như một mẻ lưới mà tất cả các loại cá tốt xấu đểu phải vào lưới đó. Lúc bấy giờ, các thiên sứ theo lệnh của Chúa mà chọn lọc. Xấu tốt sẽ được phân biệt rõ ràng. Lành dữ sẽ được xét xử công minh, vì Chúa là Đấng thẩm phán tối cao của lịch sử. Gieo nhân nào, sẽ gặt quả nấy, người không tin Chúa vẫn khẳng định: “Ông Trời có mắt!”. Có thể con người không đoán được ý Chúa, chưa biết tương lai và hậu vận của mình sẽ ra sao. Tuy vậy, cần xác tín một điều: đối với những ai thiện chí sống tốt lành, thì Thiên Chúa không bỏ rơi bao giờ, vì “Ngài làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài, tức là cho những kẻ được kêu gọi như ý Người định” (Bài đọc II). Điều quan trọng là mỗi chúng ta luôn thận trọng, khôn ngoan và tỉnh thức, vì sẽ có ngày thế giới kết thúc như một mẻ lưới, và Chúa sẽ chọn lọc cá tốt, loại bỏ cá xấu.
Nhờ bí tích Thanh Tẩy, chúng ta đã chọn Chúa là lẽ sống và là gia nghiệp của đời mình. Sự chọn lựa này không chỉ dừng lại ở ngôn từ phát biểu, cũng không phải chỉ được thực hiện lúc lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, nhưng phải được minh chứng qua đời sống mỗi ngày của chúng ta, thể hiện qua lời nói, tư tưởng và hành động.
Đức tin là viên ngọc quý, là kho tàng mà chúng ta phải đánh đổi bằng biết bao cố gắng nỗ lực để giữ gìn. Chúng ta hãy dành cho Chúa một vị trí ưu tiên trong đời chúng ta, vì một khi có Ngài trong trái tim và tâm hồn, chúng ta sẽ được Chúa ban mọi điều cần thiết cho cuộc sống.
“Am hiểu tự hào vì mình biết quá nhiều; khôn ngoan nhún nhường rằng mình chỉ biết đến thế” (Knowledge is proud that it knows so much; wisdom is humble that it knows no more). (William Cowper -Từ điển danh ngôn Việt Nam).
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XVII Thường Niên Năm A này đề nghị chúng ta suy niệm về đức biện phân.
1V 3: 5,7-12
Trong Bài Đọc I trích từ sách Các Vua quyển thứ nhất, vua Sa-lô-mon cầu xin Thiên Chúa ban cho mình “một tâm hồn biết lắng nghe” để “biết phân phải trái”, nhờ đó vua mới có thể điều hành dân của Chúa cách công minh chính trực. Lời cầu xin của vua làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Rm 8: 28-30
Trong đoạn thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc các tín hữu nhớ lại rằng Thiên Chúa tiền định cho họ trở nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài và làm cho mọi sự đều sinh lợi cho những ai yêu mến Ngài.
Mt 13: 44-52
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta phải biết nhận ra giá trị khôn sánh của Nước Trời và sẵn sàng hy sinh mọi sự để thủ đắc cho được Nước Trời.
BÀI ĐỌC I (1V 3: 5, 7-12)
Vào năm 970 trước Công Nguyên, vua Sa-lô-mon lên ngôi kế vị cha mình là vua Đa-vít. Lúc đó, vua chỉ là “một thanh niên bé nhỏ”. Theo sử gia Giô-sê-phút, khi lên ngôi, vua ở độ tuổi mười bốn; còn theo truyền thống Kinh Thánh, vua ở độ tuổi mười hai.
1. Giấc mộng của vua Sa-lô-mon:
Vua đi đến thánh địa Ghíp-ôn, cách Giê-ru-sa-lem khoảng chín cây số về hướng tây-bắc, để dâng hiến lễ lên Thiên Chúa. Vào lúc đó, Đền Thờ Giê-ru-sa-lem chưa được xây dựng. Đêm sau đó vua có một giấc mộng.
Giấc mộng đóng một vai trò quan trọng tại các dân tộc thời xưa. Các Pha-ra-ô Ai-cập và các vua miền Lưỡng Hà Địa được các nhà giải mộng vây quanh. Ở Hy-lạp, các tín đồ ngủ trong các đền thánh với hy vọng là mình nhận được một sứ điệp thần linh trong khi ngủ mơ. Dân Ít-ra-en chắc hẳn cũng đã biết những mặc khải thần linh được truyền đạt trong những giấc mơ. Những dân tộc thời xưa cho chúng ta nhiều ví dụ về điều này. Thật đáng lưu ý rằng trong dân Ít-ra-en, cách thức mặc khải này không còn nữa trong suốt thời kỳ trào lưu ngôn sứ và chỉ tái xuất hiện trong những thế kỷ muộn thời hơn, kỷ nguyên của các sách khải huyền.
2. Lời cầu xin của vua Sa-lô-mon:
Sa-lô-mon bày tỏ một sự khôn ngoan trước tuổi khi vua cầu xin Chúa ban cho mình “một tâm hồn biết lắng nghe” để “biết biệt phân phải trái”, nhờ đó vua có thể cai trị dân của Thiên Chúa, một dân lớn mạnh như thế.
Như người gặp được kho báu hay một thương gia đi tìm ngọc đẹp của các dụ ngôn của Đức Giê-su trong Tin Mừng hôm nay, vị vua trẻ biết nhận ra những giá trị đích thật. Khi thức dậy, vua hiểu lời báo mộng của Đức Chúa. Từ đó, vua điều hành việc nước một cách khôn ngoan (ít ra trong giai đoạn đầu của triều đại mình). Trong giấc mộng, nếu vua từ chối những phú quý giàu sang, tuy vậy, vua được ban vô số kể.
3. Tính chất thần học của chuyện tích:
Chuyện tích không có tính chất lịch sử theo nghĩa nhặt. Quả vậy, các nhà biên soạn hai sách Các Vua (qua nhiều giai đoạn biên soạn) trong suốt thời gian làm việc nghiêm túc đã tra cứu những tài liệu viết và đã thu thập những truyền thống miệng, nhưng nỗi bận lòng hàng đầu của họ thuộc trật tự thần học. Chìa khóa của lịch sử Ít-ra-en nằm trong tay Thiên Chúa. Về vấn đề này, chuyện tích về giấc mộng của vua Sa-lô-mon cho thấy hai khía cạnh quan trọng.
Trước tiên, chuyện tích này nhấn mạnh tính chất đặc biệt của vương quyền Ít-ra-en. Vương quyền này thuộc trật tự “ân sủng”. Chúng ta biết rằng dân Thiên Chúa đã từ lâu ghê tởm ý tưởng tôn một người lên làm vua của mình. Đối với họ, chỉ mình Đức Chúa là Vua của họ. Tuy nhiên, những hoàn cảnh lịch sử đã dẫn họ đến thể chế quân chủ ; nhưng thể chế quân chủ này được tín nhiệm, nếu vị quân vương nhận ra mình chỉ là người trung gian giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Chúng ta nên lưu ý rằng vua Sa-lô-mon không nói “dân của tôi”, nhưng “dân của Ngài” khi vua ngỏ lời với Thiên Chúa. Về vấn đề này, giấc mộng ở Ghíp-ôn đáp ứng mọi thỏa mãn và mặc lấy tính cách của việc Thiên Chúa trao quyền.
Thứ nữa, những phẩm chất đặc biệt của con vua Đa-vít và vinh quang của triều đại vua hiển nhiên là câu trả lời của Thiên Chúa. Ngay từ ngày đăng quang của vị vua trẻ, Thiên Chúa đã cầm tay của vua để hướng dẫn vận mệnh của vua. Như vậy, khi đọc lại Lịch Sử của dân tộc mình, người thuật chuyện có thể phát hiện ở đây Lịch Sử Thánh.
BÀI ĐỌC II (Rm 8: 28-30)
Đoạn thư này là phần kết của chương 8 thư gởi tín hữu Rô-ma. Phần kết này được kèm theo với bài ca Đức Ái. Đoạn thư này thật sự khó nắm bắt những suy luận thần học về tiền định, ngay từ thời thánh Âu-gút-ti-nô.
1. Vấn đề tiền định:
Chúng ta phải hiểu những lời này của thánh Phao-lô: “Những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, Con của Người, để Đức Ki-tô làm trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc” như thế nào?
Trước tiên, chúng ta nên đặt đoạn thư này trở lại mạch văn của nó. Trong một cái nhìn khái quát, thánh Phao-lô lấy lại sự phát triển của mình trên sự công chính hóa nhờ đức tin và trên vinh quang của những người được tuyển chọn. Khởi điểm lập luận của thánh nhân là ý định rộng lớn của Thiên Chúa về nhân loại. Từ “ý định” luôn luôn được thánh Phao-lô dùng theo nghĩa phổ quát, không hạn định. Một mặt, vị tông đồ nhấn mạnh việc Thiên Chúa kêu gọi và con người được gọi ; đằng khác, về phía Thiên Chúa, Ngài “biết trước”, còn về phía con người, họ có “ơn gọi” ; giữa Thiên Chúa và con người có “sự tự do”. Cứu cánh của con người là ơn gọi, chứ không là tiền định. Không còn có bất kỳ chỗ nào cho việc tiền định phải chịu kết án cả.
2. Tình Chúa yêu thương:
Đây là đề tài chủ đạo. Tiếng gọi của Thiên Chúa là tiếng gọi của tình yêu. Những ai đáp trả tiếng gọi của Ngài, tức là “những ai yêu mến Người”, sẽ thấy rằng “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho họ”. Lợi ích hiển nhiên là ơn cứu độ chung cuộc, nhưng chắc chắn cũng là lợi ích tinh thần trong thời hiện tại. Từ “mọi sự”, đối lập với “lợi ích”, chỉ ra những thăng trầm của thế giới, cũng như những gian nan thử thách mà mỗi người phải chịu. Khi hướng dẫn các biến cố, Thiên Chúa muốn cứu độ những ai yêu mến Ngài, đôi khi Ngài dùng những phương cách gây sửng sốt.
Đối với người Do thái, kiểu nói: “Những ai Người đã biết từ trước”, luôn luôn âm vang một tuyển chọn xuất phát từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Không phải thánh Phao-lô không biết ý nghĩa thâm sâu của những lời này, nhưng thánh nhân nhấn mạnh rằng sự kiện Thiên Chúa biết từ trước này không là một sự chọn lựa cho bằng cái nhìn biện phân của Thiên Chúa, Đấng qua thời gian nhận ra những ai đáp trả tiếng gọi của Ngài bằng trọn niềm tin của mình.
3. Nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài:
Một lần nữa, thánh Phao-lô đặt sự lạc quan của mình dựa trên chương thứ nhất của sách Sáng Thế. Ở đây sự ám chỉ thì dễ thấy. Thiên Chúa đã sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài ; người Ki-tô hữu, trở nên con cái của Ngài, được ân sủng nhào nắn, được tiền định trở nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài, như Chúa Con đồng hình đồng dạng với Chúa Cha. Việc hiệp nhất với Đức Ki-tô cho phép “phục hồi hình ảnh nguyên thủy”.
Tiếp đó, thánh Phao-lô trở về khởi điểm của mình (hình thức văn chương bao hàm) ; thánh nhân vạch lại những giai đoạn cứu độ: tiếng gọi của Thiên Chúa đến câu trả lời của con người qua đức tin, ơn công chính hóa đoạn vinh quang. Chúng ta lưu ý rằng thánh Phao-lô đặt vinh quang tương lai vào thời quá khứ: “Người đã cho hưởng vinh quang” để diễn tả một điều chắc chắn. Thời quá khứ diễn tả điều chắc chắn trong tương lai này. Chúng ta gặp thấy một ví dụ khác trong Tin Mừng Mác-cô về việc cầu nguyện, Đức Giê-su nói: “Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc 11 : 24).
Chúng ta nên đọc lại đoạn thư này: tiền định được nêu lên trong thư này chính là Thiên Chúa yêu thương chúng ta từ muôn thuở. Chủ đề hy vọng đem lại cung giọng cho toàn bộ chương 8 này: ý định của Thiên Chúa chính là hướng dẫn con người đến vinh quang và cho Con của Ngài trở nên “trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc”.
TIN MỪNG (Mt 13: 44-52)
Vào Chúa Nhật này, chúng ta hoàn tất bài diễn từ dài của Đức Giê-su về các dụ ngôn theo Tin Mừng Mát-thêu.
Đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại ba dụ ngôn mới trong đó hai dụ ngôn: kho báu và ngọc quý, có ý nghĩa rất gần nhau, còn dụ ngôn chiếc lưới thì rất gần với dụ ngôn người gieo giống và dụ ngôn cỏ lùng.
1. Hai dụ ngôn: kho báu và ngọc quý:
Hai dụ ngôn này được phân biệt rất rõ nét với các dụ ngôn trước đó. Các dụ ngôn trước đó liên quan đến lời loan báo về Nước Trời và sự phát triển của nó ; chúng mang tính cách chủ yếu “miêu tả”. Dụ ngôn kho báu, cũng như dụ ngôn ngọc quý, là những “lời khuyến dụ” cá nhân, khẩn trương, đanh thép, nhằm thay đổi đời sống. Nếu chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa mời gọi chúng ta vào vương quốc của Ngài và Đức Giê-su là con đường dẫn chúng ta đến đó, lúc đó việc chúng ta kết hiệp với Đức Ki-tô thì ngay tức khắc, trọn vẹn, không thể nào đảo ngược được, và việc chúng ta từ bỏ mọi sự cho sự cốt yếu duy nhất này, là điều dễ hiểu! Với sự hiện của Đức Ki-tô, Nước Trời hiện có mặt ở đây rồi. Kho báu này ở trong tầm tay của chúng ta. Việc từ bỏ mọi sự để có được kho báu này là nguồn mạch của niềm vui lớn lao, niềm vui của sự tự do, niềm vui vì được giải thoát khỏi những điều bất tất.
2. Dụ ngôn chiếc lưới:
Dụ ngôn chiếc lưới này là dịp cho các môn đệ sống lại những kỷ niệm về nghề ngư phủ xưa kia của mình. Dụ ngôn này lập lại những chủ đề của dụ ngôn người gieo giống và dụ ngôn cỏ lùng. Ngư phủ thả chiếc lưới xuống biển, như người gieo giống gieo hạt giống trên cánh đồng. Lưới dần dần đầy cá, nhưng phải đợi mẻ cá hoàn tất, như người gieo giống chờ đợi mùa thu hoạch để chọn lựa. Các Tông Đồ đã trở thành những người lưới người như lưới cá – và Giáo Hội tiếp nối bước chân của các ngài. Họ phải biết kiên nhẫn hết mực. Số phận đe dọa bọn ác nhân được diễn tả theo cùng những từ ngữ như ở phần kết của dụ ngôn cỏ lùng.
Ở phần kết, thánh Mát-thêu gợi lên một kinh sư trở thành môn đệ của Đức Giê-su. Được hiểu biết Kinh Thánh cách phong phú, người kinh sư biết giá trị của những điều hoàn thiện mà Luật Mới đem đến. Lý tưởng này biểu thị rất rõ lý tưởng của tác giả Tin Mừng Mát-thêu đến mức chúng ta có thể nhận ra ở đây chữ ký của thánh nhân.
E/ Những bài suy niệm khác
