Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

Bài Ðọc I: Is 7, 10-14

“Này trinh nữ sẽ thụ thai”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Akhát rằng: “Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!” Nhưng vua Akhát thưa: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử Chúa”. Và Isaia nói: “Vậy nghe đây, hỡi nhà Ðavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuen, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Ðáp Ca: Tv 39, 7-8a. 8b-9. 10. 11

Ðáp: Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.

Xướng: Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: “Này con xin đến”.

Xướng: Như trong cuốn sách đã chép về con, lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và luật pháp của Chúa ghi tận đáy lòng con.

Xướng: Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.

Xướng: Con chẳng có che đậy đức công minh Chúa trong lòng con; con đã kể ra lòng trung thành với ơn phù trợ Chúa; con đã không giấu giếm gì với đại hội về ân sủng và lòng trung thành của Chúa.

Bài Ðọc II: Dt 10, 4-10

“Ở đoạn đầu cuốn sách đã viết về tôi là, lạy Chúa, tôi thi hành thánh ý Chúa”.

Trích thư gửi tín hữu Do Thái.

Anh em thân mến, máu bò và dê đực không thể xoá được tội lỗi. Vì thế, khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: “Chúa đã không muốn hy tế và của lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho con một thể xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên con nói: Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa, như đã nói về con ở đoạn đầu cuốn sách. Sách ấy bắt đầu như thế này: Của lễ hy tế, của lễ hiến dâng, của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội, Chúa không muốn cũng không nhận, mặc dầu được hiến dâng theo lề luật”. Ðoạn Người nói tiếp: “Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa”. Như thế đã bãi bỏ điều trước để thiết lập điều sau, chính bởi thánh ý đó mà chúng ta được thánh hoá nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giêsu Kitô một lần là đủ.

Tung Hô Tin Mừng:

Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta, và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Người.

Tin Mừng: Lc 1, 26-38

“Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, thiên thần Gáprien được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ”. Nghe lời đó, Bà bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.

Thiên thần liền thưa: “Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận”.

Nhưng Maria thưa với thiên thần: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”

Thiên thần thưa: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Ðấng Bà sinh ra, sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ họi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được”.

Maria liền thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền”. Và thiên thần cáo biệt Bà.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

 HÃY BÀN HỎI VỚI CHÚA

Bà Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào…” (Lc 1,34a)

Suy niệm: Bối rối và kinh sợ là tâm trạng của Đức Maria khi đối diện với lời Thiên Chúa mời gọi trở nên cung lòng cho Ngôi Lời nhập thể làm người. Bối rối vì ý muốn của Chúa có vẻ vượt quá suy nghĩ của Mẹ, thậm chí ý muốn ấy làm đảo lộn dự phóng của Mẹ về tương lai cuộc đời mình. Kinh sợ vì hồng ân Chúa dành ban cho Mẹ quá lớn lao, Mẹ cũng chưa hình dung cuộc đời mình sẽ như thế nào, phải đương đầu với những gì khi đón nhận điều Chúa muốn. Trong tâm trạng bối rối, kinh sợ ấy, Mẹ khiêm tốn bàn hỏi với sứ thần về cách thức sự việc xảy ra, cũng như xin Chúa cho biết mình phải cộng tác thế nào trong chương trình cứu độ của Chúa. Để rồi khi nhận được câu trả lời, với tất cả lòng tin vào quyền năng, tình yêu của Chúa, Mẹ can đảm đáp tiếng xin vâng, nỗ lực thực hiện điều Chúa muốn.

Mời Bạn: Đã có không ít biến cố hay xì-căng-đan trong lòng Giáo Hội làm người Kitô hữu rơi vào tâm trạng bối rối, mù mờ, thậm chí hoang mang, kinh sợ. Như Đức Maria, bạn và tôi được mời gọi hãy đến với Chúa, xin Ngài soi sáng cho biết điều Chúa muốn, cũng như phải đáp ứng thế nào hầu đứng vững trước những khủng hoảng, xây dựng sự hợp nhất, làm sáng danh Chúa. Để làm được điều đó, ta cần sự khiêm nhường, lòng tin tưởng vào quyền năng của Chúa.

Sống Lời Chúa: Trong mọi việc, nhất là những việc quan trọng, bạn tập cầu nguyện với Chúa, xin Ngài soi sáng cho biết việc phải làm.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa chính là nguồn quang minh tâm trí chúng con. Xin giúp chúng con luôn bàn hỏi với Chúa, nhất là khi gặp khủng hoảng, và thi hành điều Chúa muốn. Amen.

B/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương

Sứ điệp mà Thiên thần đem đến cho Đức Maria trong ngày Truyền Tin là sứ điệp của niềm vui: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân phúc”. Vậy đâu là lý do của niềm vui mà thiên thần muốn mời gọi Mẹ hãy mừng vui lên ?

Ta thấy ít là có ba lý do: 

– Lý do thứ nhất: qua biến cố Truyền Tin, bình minh ơn cứu độ đã được khởi đầu.

Sau khi tổ tông sa ngã phạm tội, TC đã không bỏ rơi hay trừng phạt, nhưng Ngài hứa ban ơn cứu độ cho con người. Và để thực hiện chương trình đó TC đã chọn gọi các tổ phụ, các tiên tri để rồi chuẩn bị và thiết lập một dân riêng, dân tộc Israel. Chương trình cứu độ ấy được bắt đầu thực hiện từ biến cố truyền tin, biến cố mà nhân loại đã mong đợi từ lâu, biến cố mà tất cả các tiền nhân  công chính đang khát khao trông chờ. Ngày truyền tin như là hừng đông báo trước ngày Đức Kitô, Mặt Trời Công Chính xuất hiện.

– Lý do thứ hai: qua biến cố Truyền Tin, Ngôi Hai Thiên Chúa đã đi vào lịch sử nhân loại.

Con Thiên Chúa vốn là Đấng vô hình đã trở nên hữu hình để đồng hành, chia sẻ thân phận của con người. Con Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, có từ đời đời đã chấp nhận đi vào không gian thời gian, đi vào lịch sử phàm nhân. Con Thiên Chúa là Đấng siêu linh đã mặc lấy xác phàm và trở nên Emmanuel, là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Bởi đó ta có thể hiểu tại sao lễ Truyền Tin được gọi là lễ trọng Kính Chúa, chứ không phải là lễ Kính Đức Mẹ là vậy. 

– Lý do thứ ba: qua biến cố Truyền Tin, ơn gọi và phẩm giá cao quí của con người được khẳng định.

Ơn gọi của con người trở nên cao quý vì từ chổ là kẻ thù nghịch với Thiên Chúa mà nay lại được Thiên Chúa mời gọi cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài, mà đại biểu vô cùng ưu tú là Đức Maria qua lời thưa xin vâng. Lời xin vâng của Đức Maria phản ánh lời xin vâng trọn hảo của Đức Giêsu. Nói cách khác, biến cố Truyền Tin là biến cố của sự gặp gỡ giữa lời xin vâng của Đức Giêsu và lời xin vâng của Đức Maria, lời xin vâng làm nên ơn gọi cao quý cho con người.

Hơn nữa, qua biến cố Truyền tin, phẩm giá của con người cũng được nên cao trọng bội phần, vì từ thân phận tội nhân, đáng bị án phạt đời đời, nay chúng ta được trở nên anh em, chị em và là mẹ của Chúa Giêsu. Đồng thời được trở nên con cái TC trong Đức Giêsu Kitô. Còn ân phúc nào lớn lao hơn nữa. Vui mừng là điều rất phải lẽ.

Khi thiên thần bảo Mẹ hãy mừng vui lên cũng chính là bảo mỗi người chúng ta hãy vui mừng lên. Niềm vui của Mẹ cũng là niềm vui của mỗi người chúng ta. Hồng ân mà Mẹ được hưởng, chính chúng ta cũng được hưởng.

Vậy trước những niềm vui và hồng ân đó, tâm tình sống của chúng ta là gì ?

Trước hết đó là tâm tình tạ ơn. Tạ ơn Thiên Chúa Cha vì đã yêu thương ban tặng chính Con Một của Ngài để cứu độ nhân loại chúng ta. Tạ ơn Đức Giêsu Kitô vì Ngài đã cho chúng ta được làm anh chị em với Ngài và được trở nên đồng thừa tự với Ngài. Tạ ơn Ba ngôi Thiên Chúa đã cho chúng ta được cộng tác vào chương trình cứu độ. Sau nữa là tâm tình tri ân Đức Mẹ vì qua lời thưa xin vâng của Mẹ, mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã trở nên Emmanuel, đem lại sự sống thần linh, sự sống đời đời cho chúng ta.

C/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng

“Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.”

Quả là phiền, tin mà thiên thần Gabriel loan báo cho Đức Maria trong đoạn Tin Mừng hôm nay quả là phiền. Thử đặt mình vào trong khung cảnh của buổi truyền tin hôm nay, chúng ta mới thấy rằng, đón nhận lời thiên sứ chẳng phải là chuyện dễ dàng. Một thiếu nữ con nhà gia giáo vốn không nghĩ đến việc phu thê mà bỗng dưng được một người lạ mặt đón gặp và đề nghị một việc ‘động trời’: là mang thai. Nếu là chúng ta, có lẽ sẽ từ chối và xin hai chữ bình an thôi. Nhưng đối với Mẹ, khi nhận ra rằng lời truyền tin là lời mời gọi của Thiên Chúa và cũng là sứ mạng của mình, thì Mẹ đã can đảm đón nhận, vượt qua những suy tính bình thường, Mẹ đã mạo hiểm, chấp nhận những hậu quả của ơn gọi, một ơn gọi thật là phiền nhiễu.

Thế nhưng đó chẳng phải là phiền nhiễu đầu tiên và cuối cùng của việc Thiên Chúa xuống làm người đã đặt ra cho từng con người cụ thể và cho mỗi người chúng ta. Quá khứ gần thì có Gioan Tẩy Giả: ăn uống không giống ai, tự nhận chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Rồi không biết cân nhắc liều lượng trong việc phê phán tội lỗi của vua, thế là mất đầu. Tương lai gần thì có một Con Thiên Chúa toàn năng mà sinh ra trong những điều kiện có lẽ còn thua cả đám con cái của những kẻ chăn bò.

Và đó mới chỉ là bắt đầu của cả một chuỗi dài những phiền nhiễu khác ghi đầy trong bốn cuốn sách mà chúng ta gọi là Tin Mừng.

Phải, Tin Mừng của Đức Giêsu, bắt đầu với những sự việc liên quan đến biến cố Giáng Sinh, quả là phiền nhiễu. Bởi vì Tin Mừng ấy như đảo lộn tất cả các giá trị vẫn thường được tìm thấy trong cuộc đời thường, như là tiền tài, danh vọng, tình ái… Hơn thế nữa, Tin Mừng ấy như buộc mọi người tin không được yên thân, mà luôn luôn phải tỉnh thức để chờ đón Chúa, phải bán gia tài của cải mà lo cho kẻ khó, phải hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu…

Quả là phiền nhiễu quá, đến độ ngay cả môn đệ tin cậy nhất của Chúa khi xưa cũng phải than: “Thầy nói sao khó nghe quá”. Nhưng cuối cùng Chúa vẫn đến trong bất cứ nơi nào, trong bất cứ lúc nào để tiếp tục rao giảng Tin Mừng qua từng sự kiện, qua từng biến cố, nơi từng người, và nơi cả nhân loại.

Do đó, ý nghĩa lớn nhất của sự kiện truyền tin hôm nay chính là thái độ của Đức Trinh Nữ Maria khi đón nhận từ Thiên sứ Gabriel một tin mừng hết sức phiền nhiễu.

Tin Mừng là như thế, và đón nhận mầu nhiệm Giáng Sinh là đón nhận sự phiền nhiễu của cuộc đời, của lịch sử con người. Cái phiền nhiễu ấy lúc nào cũng có và lúc nào cũng đòi hỏi con người phải phấn đấu lướt thắng để sống Tin Mừng nhập thể, Tin Mừng đau thương và Tin Mừng hạnh phúc vinh quang.

Chúa đã đến trong lòng Trinh Nữ Maria, liệu ta có dám loại trừ mọi tội lỗi, sự xấu, ma quỷ và những quyến rũ nặng nề để sống cái chân thật của đời ta hay không?

Mẹ Maria đã dám sống cái phiền nhiễu và vượt thắng cái phiền nhiễu vô cùng bất lợi để đón nhận tin vui: Cưu mang Con Thiên Chúa làm người. Nhờ vậy mà Thiên Chúa đã làm người và đến ở giữa chúng ta.

Cũng như Đức Mẹ, Thiên Chúa vẫn hằng mời gọi chúng ta tham dự vào công cuộc truyền giáo của Ngài, vậy chúng ta hãy xin Chúa gia tăng trong chúng ta lòng can đảm để dám chấp nhận sứ mạng Chúa trao như Đức Maria hôm nay, chấp nhận mọi thiệt thòi, mọi phiền nhiễu để nhập cuộc cùng với Ngài và với các anh chị em khác.

D/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist

XIN MẸ DẠY CON HAI TIẾNG XIN VÂNG

Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy mỗi khi Thiên Chúa muốn tuyển chọn ai cộng tác với Ngài, thì Ngài đặt cho họ một tên mới chẳng hạnh như: Apram → Apraham để kêu gọi ông làm tổ phụ nhiều dân tộc (x. St 17,5; Rm 4,7), Xarai → Xara khi cho bà làm mẹ chư dân (x. St 17,15-16). Simon → Phêrô khi đặt ông lãnh đạo Giáo Hội (x. Mt 16,8; Ga1,42). Cũng vậy, trong biến cố Tuyền tin, Thiên Chúa qua miệng của sứ thần đã gọi Đức Maria bằng tên mới: “Bà đầy ơn phúc”– “Kính chào Bà đầy ân phúc” (Lc 1,28), để đề nghị Đức Maria vào một phận vụ có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại đó là làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Đức Maria đã có thái độ như thế nào trước lời đề nghị này?

Đức Maria đã tỏ ra bối rối như Tin mừng. Không bối rối sao được trước một ân huệ cao cả làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là điều rất đỗi vinh quang mà hầu hết các phụ nữ Do thái đều ước ao mong chờ. Là một tín hữu Do thái nhiệt thành sống đạo, hẳn Mẹ Maria vẫn luôn cầu xin Đấng Thiên Sai ngự đến cứu dân tộc của Mẹ. Nhưng có lẽ chưa bao giờ Mẹ dám xin cho mình được làm thân mẫu Thiên Chúa. Ước mong của Mẹ là sống trọn đời đồng trinh để chuyên chăm phụng sự Thiên Chúa mà thôi.

Thế mà nay, thiên thần Truyền tin cho Mẹ sẽ sinh con mà vẫn còn đồng trinh; một điều hết sức nghịch lý, hết sức ngược đời, không thể nào hiểu nổi. Mặc dù Mẹ đã đính ước với Giuse nhưng các ngài chưa từng chung sống, biết giải thích thế nào về bào thai, ai sẽ tin rằng do quyền năng của chúa thánh thần? Giuse sẽ nghĩ về bào thai như thế nào, khi luật Môsê tuyên phạt ném đá những phụ nữ ngoại tình? Thật là một mớ tơ vò ngổn ngang trong tâm trí Mẹ.

Đặt mình vào hoàn cảnh của Mẹ Maria lúc đó, chúng ta mới phần nào hiểu nỗi bối rối, hãi hùng của Mẹ. Thế nhưng mà, dù có bối rối lo sợ Mẹ vẫn tin vào lời Thiên Chúa truyền dạy. Mẹ vẫn can đảm “xin vâng” với kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, với thái độ khiêm hạ: “Này tôi là tôi tá Chúa tôi xin vâng như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38). “Với lời đáp đó Đức Maria như muốn thưa lên với Thiên Chúa: Này con đây, con là bảng viết, xin văn nhân cứ viết những điều Người muốn, xin Chúa của vạn sự dùng con theo tôn ý của Người” (Thánh Giáo phụ Origene).

Đàng khác, khi so sánh biến cố Truyền tin cho ông Dacaria, và biến cố Truyền tin cho Đức Maria chúng ta sẽ nhận biết rõ hơn lòng tin tưởng khiêm hạ của Đức Mẹ. Trong khi Dacaria cần một dấu chỉ để tin:“Dựa vào đâu mà tôi biết được điều đó? Tôi đã già và vợ tôi đã cao niên” (Lc 1,18), thì Trinh nữ Maria chỉ muốn biết cách thức để thi hành ý Thiên Chúa như thế nào: “Việc ấy sẽ xảy ra như thế nào? Vì tôi không biết đến người nam” (Lc 1,18.34). Thánh Augustinô giải thích rằng: “Đức Maria tìm hiểu cách thức, chứ không nghi ngờ về sự toàn năng của Thiên Chúa”. Bởi thế, lời Fiát của Đức Maria là lời diễn tả lòng tin trọn vẹn vô điều kiện. Với sự ưng thuận của Đức Trinh Nữ Maria, Con Thiên Chúa đã nhập thể làm người cứu độ chúng ta.

Là những kitô hữu đang lữ hành nơi dương thế này, chúng ta không tìm đâu được một gương mẫu hoàn hảo như Mẹ Maria, bởi vì Mẹ cũng đã từng trải qua những gian nan trong cuộc sống hằng ngày như hết thảy chúng ta. Cho nên Mẹ thấu hiểu từng hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Vì thế mà nhiều lần, ở nhiều nơi Mẹ đã hiện ra an ủi các con cái Mẹ, người tin đạo cũng như người ngoại đạo.

Ước gì chúng ta siêng năng lần hạt cầu khấn, xin Mẹ dìu dắt mỗi bước trên đường đời đầy chông gai của chúng ta, đặc biệt mừng lễ Mẹ chúng ta cùng noi gương Mẹ luôn suy niệm và can đảm thực hành lời Chúa truyền dạy trong cuộc sống hằng ngày.

“Lạy Nữ Vương gia đình, Mẹ ở đây với chúng con, vui buồn sướng khổ, Mẹ con cùng nhau chia sẻ. Xa Mẹ chúng con biết cậy trông ai? Đời chúng con gian nan khổ sở lắm, gia đình chúng con long đong tối ngày, nhưng có Mẹ ở bên chúng con, chúng con thấy quên hết ưu phiền, vui sống qua kiếp lưu đày, mong ngày sau sung sướng cùng Mẹ muôn đời trên thiên đàng”. Amen.

E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

LỄ TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MẸ 

Hỡi Sứ thần Thiên Chúa Gabriel,
Khi người xuống truyền tin cho Thánh nữ,
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú,
Người có nghe náo động cả muôn trời?
 (Hàn Mạc Tử)

Đức Mẹ có hai nhân đức rất quan trọng này: lòng kính sợ Thiên Chúa và sự khiêm nhường

  1. Lòng kính sợ Thiên Chúa

Sách thánh vịnh nói: “Lòng kính sợ Thiên Chúa là đầu mối của mọi sự khôn ngoan” (Tv 111,10). Lòng kính sợ Thiên Chúa nơi Đức Mẹ được biểu lộ ra trong nhiều trường hợp nhưng đặc biệt được biểu lộ ra một cách rõ rệt trong hai trường hợp này.

+ Trước hết vì lòng kính sợ Thiên Chúa cho nên Đức Mẹ không dám làm những gì mất lòng Chúa. Thí dụ như trong biến cố truyền tin hôm nay, Đức Mẹ chỉ chấp nhận lời đề nghị của sứ thần Gabriel khi biết chắc việc thụ thai là do quyền lực của Chúa Thánh Thần.

+ Thứ đến là Đức Mẹ luôn sẵn sàng thi hành mọi mệnh lệnh của Thiên Chúa.

– Trong việc đưa Hài nhi Giêsu trốn qua Ai cập

– Trong việc đưa Chúa Giêsu trở về

– Nhất là theo Chúa Giêsu lên đến đỉnh đồi Golgôtha .

  1. Lòng khiêm nhường

Các nhà tu đức học đều coi “Khiêm nhường là đức nền tảng của mọi nhân đức”. Sự khiêm nhường của Đức Mẹ được biểu lộ rất rõ nét qua hai sự việc này:

– Đức Mẹ đã biết nhìn nhận thật rõ về con người của mình. Khác hẳn với Eva thuở xưa trong vườn địa đàng, tuy chỉ là con người mà cứ tưởng mình ngang tầm với Thiên Chúa. Đức Mẹ là Eva mới dù được Thiên Chúa đặc biệt ưu ái tuyển chọn lên bậc “quân vương” làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu thế, nhưng Đức Mẹ vẫn chỉ xưng mình là một tôi tớ không hơn không kém…

– Đức Mẹ nhìn nhận tất cả những gì mình có được đều là do Thiên Chúa.

“Người đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn” (Lc 1,48)

“Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1,49)

“Thiên Chúa đã hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao những kẻ khiêm nhường – Thiên Chúa đã ban đầy dư cho những kẻ nghèo, còn người giàu có thì Người đuổi về tay không” (Lc 1,48).

Phải có một lòng khiêm nhường thật thẳm sâu thì mới có thể thấy hết được những sự thật đó. Thái độ của Đức Mẹ khác hẳn với thái độ của Eva thuở xưa. Eva thuở xưa mới có được một chút quyền hành Thiên Chúa ban cho trong công việc canh giữ và làm chủ vườn địa đàng đã tưởng mình là quan trọng, thậm chí có lúc còn tưởng là Thiên Chúa như muốn ghen tương với mình. Thật là kiêu ngạo.