
“Tôi là ánh sáng thế gian.”
Bài Ðọc I: Ðn 13, 1-9. 15-17. 19-30. 33-62 (Bài dài)
“Ðây tôi phải chết, dù tôi không làm điều họ vu khống cho tôi”.
Trích sách Tiên tri Ðanien.
Trong những ngày ấy, có một người đàn ông ở Babylon tên là Gioakim cưới bà vợ tên là Susanna, con của Khenkigia, bà rất xinh đẹp và có lòng kính sợ Chúa, vì cha mẹ bà là những người công chính, đã dạy con cho biết giữ luật Môsê. Lúc đó Gioakim rất giàu có, ông có một khu vườn gần nhà ông, các người Do Thái năng lui tới nhà ông, vì ông là người đáng kính hơn mọi người khác.
Năm đó, người ta đã đặt lên hai vị thẩm phán trong dân. Chúa đã phán về những kẻ ấy rằng: “Sự gian ác phát sinh từ Babylon bởi những vị thẩm phán kỳ lão, là những người xem ra như cai quản dân chúng”. Các ông năng lui tới nhà ông Gioakim, nên tất cả những ai kiện tụng, thì tìm gặp các ông ở đó. Ðến trưa, khi dân chúng trở về nhà, bà Susanna vào đi bách bộ trong vườn của chồng. Hai vị kỳ lão thấy bà mỗi ngày đi bách bộ trong vườn, thì phải lửa dục mê đắm; hai ông mất lương tâm, không còn muốn đưa mắt nhìn lên trời và không còn muốn nhớ đến sự xét xử công minh.
Hai ông chờ ngày thuận tiện, lúc bà Susanna vào vườn như hôm trước và hôm trước nữa, bà chỉ dẫn theo hai cô thiếu nữ, bà muốn tắm trong vườn, vì trời nóng bức. Lúc bấy giờ ở đó không có ai, ngoài hai vị kỳ lão đang ẩn núp và ngắm nhìn bà. Bà nói với hai cô thiếu nữ rằng: “Hãy mang dầu và thuốc thơm cho ta, rồi đóng cửa vườn lại để ta tắm”.
Khi hai cô thiếu nữ ra khỏi vườn, hai vị kỳ lão đứng lên, tiến lại gần bà Susanna và nói: “Kìa cửa vườn đã đóng hết; không ai trông thấy ta đâu, chúng tôi say mê bà, bà hãy chấp nhận lời yêu cầu của chúng tôi và hiến thân cho chúng tôi. Nếu bà không chấp nhận, chúng tôi sẽ làm chứng nói bà phạm tội với một thanh niên, và vì đó, bà đã bảo các cô thiếu nữ ra khỏi vườn”.
Bà Susanna thở dài và nói: “Tôi phải khốn cực tư bề; nếu tôi hành động như thế, tôi phải chết, và nếu tôi không hành động như thế, tôi cũng không thoát khỏi tay các ông. Nhưng thà tôi phải tay các ông mà không làm điều gì phạm tội trước mặt Chúa thì hơn!” Ðọan bà tri hô lên, nên hai vị kỳ lão cũng kêu lên tố cáo bà. Và một trong hai ông chạy ra mở cửa vườn. Khi người nhà nghe tiếng kêu la trong vườn, liền đổ xô ra cửa để xem coi việc gì đã xảy ra. Khi nghe hai vị kỳ lão kể lại, thì các đầy tớ rất lấy làm hổ thẹn, vì thiên hạ không khi nào nghe nói như thế về bà Susanna.
Ngày hôm sau, khi dân chúng tụ họp tại nhà ông Gioakim, chồng bà Susanna, hai vị kỳ lão cũng đến, lòng đầy những ý nghĩ bất chính để tố cáo bà Susanna cho người ta giết bà. Hai ông nói với dân chúng: “Các người hãy đi tìm bà Susanna, con ông Khenkigia, vợ của ông Gioakim”. Người ta liền sai đi bắt bà, bà đến với cả cha mẹ, con cái và tất cả họ hàng. Nhưng tất cả họ hàng và mọi kẻ biết rõ bà đều khóc lóc.
Khi hai vị kỳ lão ra đứng giữa dân chúng, hai ông đặt tay lên đầu bà. Bà Susanna thì khóc lóc, ngước mắt lên trời, vì tâm hồn bà tin tưởng nơi Chúa. Hai vị kỳ lão nói: “Khi chúng tôi đi bách bộ một mình trong vườn, bà này đi vào với hai đứa tớ gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn lại, rồi đi ra. Bấy giờ một chàng thanh niên đã ẩn núp trong vườn tiến tới gần bà và phạm tội với bà. Lúc đó chúng tôi núp ở góc vườn, nhìn thấy tội ác, chúng tôi liền chạy đến bắt quả tang hai người đang phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng thanh niên, vì anh ta khoẻ mạnh hơn chúng tôi, nên đã mở cửa tẩu thoát. Còn bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn hỏi chàng thanh niên đó là ai, nhưng bà không muốn nói cho chúng tôi biết. Ðó là điều chúng tôi xin làm chứng”. Dân chúng tin lời hai ông nói, vì hai ông là bậc kỳ lão trong dân và là thẩm phán, nên họ lên án tử hình cho bà.
Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là Ðanien. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Ðứa trẻ ra đứng giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Ítraen, các ngươi ngu muội thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Ítraen? Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Ðanien: “Này, em hãy ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ lão”. Ðanien liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai ông đứng xa nhau, Ðanien gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính”. Vậy nếu ông thấy bà Susanna phạm tội, thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”. Ðanien liền nói: “Ðúng là ông nói dối. Ðây sứ thần Chúa được lệnh phân thây ông”. Ðanien cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Ðanien nói với ông này rằng: “Hỡi dòng giống Canaan, chớ không phải dòng giống Giuđa, sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như thế đối với các thiếu nữ Ítraen, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây sồi”. Ðanien liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Ðoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Ðanien đã minh chứng rằng hai ông đã vu khống, họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Hoặc đọc bài ngắn này: Ðn 13, 41c-62
Trích sách Tiên tri Ðanien.
Trong những ngày ấy, dân chúng lên án tử hình bà Susanna. Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là Ðanien. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Ðứa trẻ ra đứng giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Ítraen, các ngươi ngu muội thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Ítraen? Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Ðanien: “Này, em hãy ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ lão”. Ðanien liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai ông đứng xa nhau, Ðanien gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm. Ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính”. Vậy nếu ông thấy bà Susanna phạm tội, thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”. Ðanien liền nói: “Ðúng là ông nói dối. Ðây sứ thần Chúa được lệnh phân thây ông”. Ðanien cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Ðanien nói với ông này rằng: “Hỡi dòng giống Canaan, chứ không phải dòng giống Giuđa, sắc đẹp đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như thế đối với các thiếu nữ Ítraen, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây sồi”. Ðanien liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Ðoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Ðanien đã minh chứng rằng hai ông đã vu khống; họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Ðáp: Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con.
Xướng: Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Xướng: Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.
Xướng: Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Ðầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
Xướng: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Tung Hô Tin Mừng: 2 Cr 6, 2b
Ðây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.
Tin Mừng: Ga 8, 1-11
“Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?” Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”. Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất. Nghe nói thế họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó. Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai”. Chúa Giêsu bảo: “Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
THA THỨ THAY CHO KẾT ÁN
“Tôi không lên án chị đâu! Thôi cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8,11)
Suy niệm: Trắng ra trắng, đen ra đen thì dễ dàng chọn lựa, phán quyết. Thế nhưng, gặp trường hợp “xanh vỏ đỏ lòng,” việc lựa chọn, phán quyết trở nên khó khăn; nếu không cẩn trọng sẽ hư nếp hư đường cùng một trật. Do đó, ta cần suy nghĩ thấu đáo trước khi đưa ra phán quyết về một con người. Phán quyết nông nổi, thiếu bao dung có thể dẫn đến tai họa, không thể sửa sai. Một quyết định sai lệch có thể huỷ hoại cả một mạng sống con người. Là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn lòng người, nhưng Chúa Giê-su cũng rất dè dặt khi lên án tội nhân; ta hãy ngắm nhìn những ngón tay Ngài chậm rãi viết trên đất như một hình thức trì hoãn, câu giờ. Huống hồ chúng ta là ai mà dám kết án tha nhân? Kết án không cải thiện tâm hồn người anh em cho bằng tha thứ; nhưng tha thứ là việc không dễ dàng, cho nên kết án thường thắng thế. Còn Thiên Chúa thì ngược lại, Ngài để lòng tha thứ luôn thắng thế việc kết án con người.
Mời Bạn: Thiên Chúa nhân hậu, không mỏi mệt khi tha thứ cho con người, là mấu chốt để chúng ta tin cậy vào tình thương của Ngài, sám hối trở về, xin ơn tha thứ, đặc biệt trong mùa Chay thánh này. Bạn đã sẵn sàng tâm tình ấy chưa?
Sống Lời Chúa: Tìm hiểu một người đang sống xa Chúa, bỏ việc thờ phượng Ngài, để an ủi, nâng đỡ, giúp họ quay về với Chúa qua Bí tích Hòa giải, cũng như qua việc tham dự phụng vụ.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa luôn nhìn tội nhân với cái nhìn mới mẻ, khoan dung. Chúa không lên án người phụ nữ vì tin tưởng chị sẽ đổi đời. Xin cho con nhận ra Chúa là Đấng chậm bất bình và giàu ơn cứu độ, để con luôn cố gắng sống đẹp lòng Chúa. Amen.
Cả hai bài đọc hôm nay cho thấy Thiên Chúa luôn đứng về phía những người tội lỗi, luôn mở đường về phía trước; chỉ có con người là hay bít lối của nhau. Bài Tin Mừng này hẳn phải là một bài học quý giá để chúng ta ngẫm nghĩ:
Trước hết, Chúa muốn nói phải tự xét mình trước khi xét người.
Không ai có thể phủ nhận tội của người phụ nữ ngoại tình này, và không ai có thể làm ngơ cho chị, vì như vậy là đồng loã với tội ác và chống lại lề luật của Thiên Chúa. Đúng là một cái bẫy, một con dao hai lưỡi, một hòn đá ném ra giết cả hai, phạm nhân và quan toà. Nếu Đức Giêsu tuyên bố tha bổng là Ngài đã chống lại lề luật, và cứ theo luật Ngài cũng sẽ bị ném đá. Nếu Ngài tuyên án ném đá thì dư luận sẽ kết án Ngài, vì Ngài giảng dạy về lòng nhân từ và tha thứ. Trước hoàn cảnh khó xử ấy, Đức Giêsu im lặng để kéo dài thời gian suy nghĩ, và cũng là cách làm nguôi ngoai cơn giận dữ của đối thủ. Vì thế chúng ta không cần biết Chúa Giêsu viết gì trên đất, viết mà như không viết. Cuối cùng, Ngài cũng đã gỡ được thế bí bằng câu nói : “Ai trong các ngươi vô tội thì hãy ném đá chị này trước đi !”. Đúng là ‘gậy ông lại đập lưng ông’. Một chút hổ thẹn đã làm họ lặng lẽ rút lui.
Câu trả lời của Chúa không phải là một phán quyết nhưng là một lời tra vấn vì tội của chị ta quá rõ ràng, song còn có lắm kẻ chuyên ném đá giấu tay, hoặc ăn vụng khéo chùi mép nên không bị tố giác. Dường như chúng ta ngày nay cũng chỉ nhận tội khi mình bị bắt quả tang, còn những tội thầm kín thì cứ ung dung như không có. Liệu tôi có còn một chút liêm sỉ, dám buông đá rút lui như những kẻ tố cáo kia không ? Hay tôi lại dễ bỏ qua cho mình mà không buông tha cho kẻ khác !
Thứ đến, Chúa luôn mở lối thoát cho các tội nhân.
Nhóm luật sĩ và biệt phái đã dồn người phụ nữ ngoại tình này vào đường cùng không lối thoát. Không có con đường sống nào hé mở cho chị ta vì đám đông mỗi người một hòn đá đang lăm le chờ đợi câu trả lời của Đức Giêsu. Cho dù Ngài có trả lời không nên kết án thì họ cũng chẳng tha vì tội của chị ta đã rành rành. Trái lại, Đức Giêsu không đồng tình với cách xét xử khắc nghiệt của người Do Thái, nhưng cũng không dung túng cho chị ta cứ phạm tội. Ngài chỉ muốn chị hãy bắt đầu lại vì đối với Thiên Chúa không có gì là quá muộn. “Chị hãy đi và đừng phạm tội nữa !” là lời Chúa thường nói với mỗi người chúng ta khi lầm lỡ. Thánh nhân không phải là người không bao giờ phạm tội, nhưng là người biết chỗi dậy sau mỗi lần phạm tội. Không bao giờ Thiên Chúa muốn giam hãm chúng ta trong quá khứ tội lỗi, song Ngài luôn mở ra một tương lai tươi sáng cho mỗi phạm nhân.
Bài Tin Mừng hôm nay là một lời nhắc nhớ chúng ta đừng vội kết án nhưng hãy ‘uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói’. Nó làm chúng ta nguôi giận mỗi khi có ai đó làm ta bực mình muốn lên tiếng chửi bới. Nếu tôi sực nhớ đến Lời Chúa: “Ai trong các ngươi vô tội !” thì tôi sẽ đè nén được cơn giận; vì ai mà chẳng có một lần phiền toái, làm thiệt hại hoặc ngu xuẩn y như người kia vừa làm mình bực dọc.
Còn tình thế nào tuyệt vọng hơn tình huống của người phụ nữ ngoại tình này: bị bắt quả tang phạm tội không còn đường chối cãi, chị đang đứng giữa vòng vây của dân chúng và các “công tố viên” kinh sư và biệt phái để chịu kết án, mà mức án đã ghi rõ: Tử hình, ném đá! Chỉ có Đức Giê-su đang đứng gần chị và trong phiên toà đã dựng sẵn đó, Ngài bị đẩy vào tư thế chánh án: Theo luật Mô-sê thì ném đá, “Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Thật bất ngờ, Ngài từ bỏ địa vị chánh án để đứng vào tư thế tội nhân với người phụ nữ: Ngài ngồi xuống, cúi đầu viết viết gì đó trên đất. Và cuối cùng Ngài trả lại vai trò chánh án cho lương tâm của mỗi người: phải xét chính mình trước khi đòi kết án người khác: “Ai vô tội hãy ném đá trước đi”.
Chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Giê-su đáng mến: Ngài đang xử án. Ngài đưa chúng ta ra trước toà án của lương tâm. Phần Ngài, Ngài tự đặt mình vào tư thế tội nhân để gánh lấy tội cho chúng ta. Và đối với những ai đã nhận biết tội mình, thì lời tuyên án duy nhất của Ngài là: “Hãy về và đừng phạm tội nữa!” Chúng ta có cảm kích trước thái độ của Chúa Giê-su không? Đến lượt chúng ta, hãy học cách xử án của Thầy Giê-su. Và đồng thời, đừng phạm tội nữa!
Rất nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta luôn lăm lăm cục đá trong tay, để lên án, để rình ném đá người khác. Chúng ta rất dễ kết án anh em, trong khi chính chúng ta lại đầy tội lỗi.
Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối của mình để biết hối cải, và cảm thông với anh chị em chúng ta: “Hãy về và đừng phạm tội nữa”.
D/Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
CHÚA NHÂN TỪ KHÔNG KẾT ÁN
Đoạn Tin Mừng (Ga, 8, 1-11) với câu kết thật là đẹp “Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa” ( Ga 8,11). Thiên Chúa quả là Đấng nhân từ, Ngài không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống. Không kết án, hay tha thứ là bản chất của Thiên Chúa. Chúa Giê-su là hiện thân của Thiên Chúa hay tha thứ ghét tội và yêu thương kẻ có tội, không dung túng tội lỗi, nhưng khoan nhân với tội nhân.
Sự tha thứ của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự dung túng thường tình. Ngài không tha thứ sự dữ, nhưng tha thứ cho người tội lỗi biết ăn năn.
“Ta không kết tội “. Khi nghe những lời trên, làm sao chúng ta không cảm nghiệm được một niềm tín thác trào dâng trong tâm hồn chúng ta? Sao không nhìn thấy nơi đó một “Tin Vui” cho cả và nhân loại ở thời đại chúng ta, những con người đang mong chờ khám phá lại ý nghĩa đích thật của lòng nhân từ và sự tha thứ.
Thời đại chúng ta đang cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa, một sự tha thứ làm phát sinh niềm hy vọng và phó thác, mà không làm yếu đi cuộc chiến chống lại sự dữ.
Người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đại diện cho tất cả chúng ta, những tội nhân. Cách nào đó, chúng ta cũng là những người ngoại tình trước mặt Thiên Chúa, là những kẻ phản bội lòng trung tín của Ngài. Thiên Chúa không kết án chúng ta nhưng cứu độ chúng ta nhờ Ðức Giê-su. Ngài đã lấy ngón tay viết trên đất, trên cái bụi mà từ đó con người được tạo dựng nên (x. St 2,7). Phán quyết của Thiên Chúa là: ‘Ta không muốn con phải chết, nhưng muốn con được sống”. Chúa không cứ tội ta mà trách phạt, cũng chẳng đồng nhất ta với những lỗi lầm trót phạm. Chúa muốn giải thoát chúng ta.
Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin giúp chúng con biết cậy dựa vào lòng từ bi của Chúa, nhờ đó chúng ta sẽ được thứ tha. Amen.
E/ Lm. Giu-se Đinh Lập Liễm
TÌNH THƯƠNG THA THỨ
1. Người Do thái có nhiều lễ trong một năm. Lễ Lều Trại có lẽ là cơ hội để người ta lạm dụng, ăn ở phóng túng. Trong suốt tám ngày sống ở lều, ngoài rừng, thuận tiện cho những cuộc gặp gỡ lả lướt. Những cuộc giao du nơi này qua nơi khác vẫn hay có những hội ngộ tình cờ, không hợp với luân thường đạo lý là bao. Chính sau cuộc lễ này mà xảy ra câu chuyện trong bài Tin Mừng.
Sau bài giảng trong Đền thờ nhân dịp lễ Lều Trại của người Do thái, Đức Giê-su đi ra nghỉ tại núi Cây Dầu. Bao giờ có dịp về thủ đô, Ngài cũng qua nghỉ đêm tại đó. Tảng sáng hôm sau, Ngài lại vào Đền thờ và toàn dân đến cùng Ngài, nên Ngài ngồi xuống đất mà giảng.
Tình cờ người ta đem đến cùng Ngài một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Những người luật sĩ và biệt phái lợi dụng cơ hội này để thử thách Đức Giê-su.
2. Hôm nay, các luật sĩ và biệt phái sử dụng “nguyên lý triệt tam” để tung ra một đòn quyết định, đặt Đức Giê-su và một tình thế tiến thoái lưỡng nan, mà nếu Ngài ngả theo phía nào thì họ cũng có cái cớ để tố cáo Ngài.
Họ đưa đến trước mặt Đức Giê-su một người phụ nữ phạm tội ngoại tình, rồi hỏi Ngài sẽ xử lý thế nào khi luật Mai-sen dạy phải ném đá chết. Cái bẫy của họ gài vào là nếu Đức Giê-su nói không thì họ kết án Chúa lỗi luật Mai-sen, còn nếu Ngài nói có thì họ sẽ có cớ phản bác trái với luật yêu thương mà Ngài giảng dạy.
Đức Giê-su không trả lời trực tiếp với họ, nhưng với một lời nói của Ngài đã đặt các luật sĩ và biệt phái vào một sự chất vấn của lương tâm và phơi bầy lòng dạ khi đối diện với Đấng thấu suốt mọi sự :”Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy lấy đá mà ném trước đi”. Cuối cùng họ lặng lẽ rút êm, bắt đầu từ người lớn tuổi nhất .
3. Rõ ràng có một sự khác biệt rất lớn giữa cách hành xử của những người luật sĩ, biệt phái với Đức Giê-su. Nhóm biệt phái thì muốn kết tội, còn Đức Giê-su thì muốn tha thứ. Nếu đọc kỹ câu chuyện chúng ta thấy, nhóm biệt phái chỉ muốn ném đá người đàn bà này cho chết, và họ còn cảm thấy rất thích thú khi được làm điều này. Họ cảm thấy vui sướng khi quyền lực được sử dụng để kết án. Còn Đức Giê-su, thì Ngài không muốn làm như vậy. Ngài không cảm thấy vui khi quyền lực được dùng để kết tội. Ngài muốn dùng quyền hành để tha thứ.
4. Qua sự kiện này, chúng ta thấy có một nghịch lý đáng buồn và cũng đáng trách : một đàng Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vô cùng lại đầy lòng thương xót và khoan dung đối với người tội lỗi… Còn con người thì ai cũng mắc tội không nhiều thì ít, không nặng thì nhẹ lại hay xét đoán, phê bình chỉ trích và lên án người khác nhất là những kẻ tội lỗi. Do đó, nhiều khi đã vô tình xô đẩy thêm kẻ có tội vào vũng lầy không lối thoát.
5. Qua câu trả lời của Đức Giê-su: ”Ai trong các ông sạch tội thì hãy ném đá người phụ nữ này đi”, chúng ta tìm ra được nguyên tắc của Đức Giê-su là chỉ người vô tội mới được đoán xét những lỗi lầm của người khác.
Hôm nay, Chúa dạy chúng ta một bài học là phải dành quyền xét đoán cho Thiên Chúa vì chỉ ai không có tội mới có quyền xét đoán và lên án, còn chúng ta là những người tội lỗi phải có lòng thương cảm đối với tội nhân.
Còn về phía mình, Chúa nhắc nhở ta phải biết hồi tâm, phải nhận ra mình là kẻ có tội, phải đi xưng tội để làm hòa với Chúa. Khi đã có một tâm tình như vậy, tự nhiên chúng ta không dám xét đoán và lên án ai.
6. Truyện: Cần lòng thương xót.
Ngày kia, có một phụ nữ đến van xin hoàng đế Napoléon tha thiết cho con trai của bà. Anh thanh niên đó đã phạm một tội nặng. Lề luật đã rõ. Công lý đòi buộc anh ta phải chết. Hoàng đế quả quyết rằng đảm bảo phải thi hành công lý. Nhưng bà mẹ năn nỉ:
– Thưa bệ hạ, tôi đến van xin lòng thương xót của ngài, không phải vì công lý.
Hoàng đế Napoléon trả lời:
– Nhưng hắn ta không đáng được xót thương.
Bà mẹ nói:
– Tâu bệ hạ, nếu nó xứng đáng thì không cần gọi là lòng thương xót nữa.
Hoàng đế Napoléon đáp:
– Thôi được. Ta rủ lòng thương xót nó.
